-
Mùa mưa làm gia tăng nguy cơ nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm -
Sốt xuất huyết tăng mạnh mùa mưa, nhiều ca sốc và tổn thương đa cơ quan -
Tin mới y tế ngày 12/8: 30 tuổi đã nhồi máu cơ tim, cảnh báo bệnh tim ngày càng trẻ hóa -
Bé gái tử vong vì bệnh dại, cảnh báo không thể chậm tiêm vắc-xin dại -
Việt Nam đón dòng khách chữa bệnh quốc tế, mở ra thị trường tỷ USD
Tăng quyền lợi, củng cố “lá chắn” bảo hiểm y tế
Tại Quyết định số 1468/QĐ-TTg ngày 31/7, Thủ tướng Chính phủ đã giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2026-2030. Đến năm 2029, tỷ lệ bao phủ được đặt mục tiêu đạt 98,67% dân số và tiến tới 100% vào năm 2030. Đây không chỉ là mục tiêu về số lượng người tham gia mà còn đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng, phạm vi và hiệu quả bảo vệ của chính sách an sinh quan trọng này.
![]() |
| Các chính sách mới về bảo hiểm y tế sẽ tạo thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận dịch vụ y tế, đồng thời giảm áp lực tài chính đối với những trường hợp phải điều trị xa nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu. |
Cùng với mục tiêu mở rộng độ bao phủ, hàng loạt quy định mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, Nghị định số 188/2025/NĐ-CP và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể quyền lợi của người tham gia, hướng tới tạo thuận lợi hơn trong tiếp cận dịch vụ khám, chữa bệnh.
Một trong những thay đổi được người dân quan tâm là trường hợp tự đi khám ngoại trú tại một số cơ sở khám, chữa bệnh cấp cơ bản và chuyên sâu vẫn được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng trong phạm vi quyền lợi đối với nhiều nhóm bệnh. Trước đây, phần lớn trường hợp khám ngoại trú không đúng nơi đăng ký ban đầu không được quỹ thanh toán. Chính sách mới vì vậy mở thêm cơ hội lựa chọn cơ sở khám, chữa bệnh và giảm áp lực chi phí đối với những người phải điều trị xa nơi đăng ký ban đầu.
Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế Trần Thị Trang đánh giá các chính sách mới sẽ tạo thuận lợi hơn cho người dân trong tiếp cận dịch vụ y tế, đồng thời giảm áp lực tài chính đối với những trường hợp phải điều trị xa nơi đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu.
Quyền lợi bảo hiểm y tế cũng được điều chỉnh tương ứng với mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng. Người tham gia được quỹ thanh toán 100% chi phí khám, chữa bệnh nếu tổng chi phí một lần khám thấp hơn 15% mức lương cơ sở, tương đương 379.500 đồng. Người tham gia đủ 5 năm liên tục được thanh toán 100% chi phí trong phạm vi quyền lợi nếu số tiền cùng chi trả trong năm vượt ngưỡng 6 lần mức lương cơ sở.
Đối với các dịch vụ kỹ thuật sử dụng thiết bị y tế có giá trị lớn, mức thanh toán tối đa của quỹ cũng được nâng lên bằng 45 tháng lương cơ sở, tương đương hơn 113,85 triệu đồng cho một lần thực hiện dịch vụ. Những điều chỉnh này đặc biệt có ý nghĩa đối với người mắc bệnh nặng, bệnh mạn tính hoặc cần điều trị kéo dài như ung thư, tim mạch, suy thận, ghép tạng - những trường hợp có thể phải đối mặt với chi phí hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Mở rộng phạm vi và mức chi trả vì thế không chỉ gia tăng quyền lợi của người có thẻ mà còn củng cố chức năng quan trọng nhất của bảo hiểm y tế là chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia và bảo vệ các gia đình trước nguy cơ kiệt quệ tài chính do bệnh tật.
Dù quyền lợi ngày càng được mở rộng, khả năng bảo vệ tài chính của hệ thống y tế vẫn đứng trước không ít thách thức. Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, chi tiền túi của người dân cho khám, chữa bệnh hiện chiếm khoảng 40% tổng chi y tế, cao hơn mức khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới. Tỷ lệ này đồng nghĩa với nguy cơ không nhỏ các gia đình gặp khó khăn về tài chính nếu một thành viên mắc bệnh nặng hoặc phải điều trị kéo dài.
Điểm quan trọng trong thiết kế chính sách là bảo hiểm y tế bổ sung không thay thế bảo hiểm y tế bắt buộc. Người dân trước hết phải tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, sau đó có thể tự nguyện lựa chọn gói bổ sung do doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp. Phạm vi chi trả giữa hai loại hình được định hướng không trùng lặp, qua đó vừa duy trì vai trò nền tảng của bảo hiểm y tế toàn dân, vừa tạo thêm một lớp bảo vệ cho những người có nhu cầu và khả năng tài chính.
Các phương án đang được nghiên cứu gồm chi trả phần cùng chi trả của người bệnh, thanh toán những dịch vụ y tế nằm ngoài phạm vi của quỹ bảo hiểm y tế, hỗ trợ điều trị bệnh hiểm nghèo, bệnh có chi phí rất cao và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo nhu cầu. Nhà nước cũng khuyến khích tổ chức, cá nhân mua hoặc hỗ trợ bảo hiểm y tế bổ sung cho người lao động.
Nếu được thiết kế hợp lý, cơ chế này có thể góp phần giải quyết khoảng trống giữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao với giới hạn chi trả của quỹ bảo hiểm y tế bắt buộc. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng vẫn là bảo đảm bảo hiểm y tế bắt buộc giữ vai trò trụ cột, tránh để khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu phụ thuộc vào khả năng mua thêm các gói bảo hiểm của mỗi người.
Hoàn thiện chuỗi cung ứng thiết bị y tế, củng cố an ninh y tế
Bộ Y tế đang đẩy nhanh hoàn thiện Đề án Quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035, hướng tới chuyển từ quản lý phân tán theo từng khâu sang quản lý tổng thể, xuyên suốt và dựa trên dữ liệu. Đây được xem là bước quan trọng nhằm bảo đảm nguồn cung, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, thúc đẩy sản xuất trong nước và tăng khả năng chống chịu của hệ thống y tế.
Một trong những trọng tâm đáng chú ý là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thiết bị y tế toàn quốc, tăng khả năng kết nối, quản trị dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Các nội dung liên quan đến mã định danh đơn nhất của thiết bị y tế, mã số, mã vạch cũng được đặt trong tổng thể này. Nếu được triển khai đồng bộ, dữ liệu sẽ không chỉ phục vụ quản lý hành chính mà còn hỗ trợ theo dõi đường đi của thiết bị, cảnh báo nguy cơ, quản lý sau lưu hành và điều phối nguồn cung.
Cùng với chuyển đổi số, dự thảo tập trung vào những vấn đề trực tiếp quyết định khả năng vận hành của thị trường như bảo đảm nguồn cung, logistics, thực hành tốt phân phối và phát triển công nghiệp thiết bị y tế trong nước; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, đánh giá sự phù hợp. Công tác hậu kiểm, cảnh báo, báo cáo sự cố, thu hồi và quản lý thay đổi sau cấp phép cũng được rà soát nhằm từng bước hình thành cơ chế kiểm soát xuyên suốt vòng đời thiết bị.
Các nội dung về ngoại thương, hải quan, thương mại điện tử, kiểm soát thị trường, giá, mua sắm, đấu thầu, cạnh tranh và dữ liệu phục vụ bảo hiểm y tế cũng được đưa vào Đề án. Đây là những mắt xích có quan hệ chặt chẽ với nhau, bởi một chuỗi cung ứng chỉ có thể vận hành hiệu quả nếu quản lý chất lượng, nguồn cung, giá cả, mua sắm và dữ liệu được kết nối thay vì tồn tại như những khâu riêng biệt.
Thành viên Tổ soạn thảo đề xuất tiếp tục hoàn thiện tiêu chí đánh giá nguy cơ của thiết bị y tế để phù hợp với phương thức quản lý theo chuỗi; bổ sung nguyên tắc bảo đảm đa dạng nguồn cung, kể cả trong những tình huống xảy ra biến động đột biến. Nhiệm vụ của các bộ, ngành liên quan trong phần phụ lục cũng cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với nội dung và mục tiêu chung của Đề án.
Đáng chú ý, phát triển năng lực sản xuất thiết bị y tế trong nước được đặt song hành với yêu cầu bảo đảm nguồn cung. Các ý kiến đề nghị nghiên cứu lồng ghép chính sách hỗ trợ sản xuất, miễn thuế nhập khẩu đối với linh kiện và những chính sách liên quan đến thuế doanh nghiệp. Dự thảo cũng được đề nghị bổ sung các quy định liên quan đến Luật Phòng bệnh, Luật Dự trữ quốc gia, cấp mã định danh đơn nhất của thiết bị y tế (UDI), mã thanh toán bảo hiểm y tế cùng các quy định pháp luật có liên quan.
Những đề xuất này cho thấy quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế không thể chỉ dừng ở khâu cấp phép. Từ lúc được sản xuất hoặc nhập khẩu đến khi đưa vào bệnh viện, một thiết bị phải trải qua nhiều mắt xích như phân phối, logistics, mua sắm, đấu thầu, sử dụng, bảo trì và quản lý sau lưu hành. Nếu dữ liệu giữa các khâu bị chia cắt, khả năng truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng, phát hiện sự cố và dự báo nhu cầu cũng bị hạn chế.
Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên khẳng định Đề án Quản lý chuỗi cung ứng thiết bị y tế giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 là công cụ quan trọng để chuyển phương thức quản lý từ phân tán, theo từng khâu sang quản lý tổng thể, xuyên suốt và dựa trên dữ liệu. Mục tiêu đặt ra là bảo đảm chất lượng, an toàn, tính sẵn có và khả năng tiếp cận thiết bị y tế; sử dụng hiệu quả nguồn lực công, tăng cường an ninh và khả năng chống chịu của hệ thống y tế, đồng thời thúc đẩy công nghiệp thiết bị y tế trong nước và chuyển đổi số ngành y tế.
Tuy nhiên, một yêu cầu quan trọng được Bộ Y tế đặt ra là tăng cường quản lý phải đi cùng bảo đảm hoạt động bình thường của thị trường. Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên yêu cầu Cục Hạ tầng và Thiết bị y tế tiếp tục phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách y tế, Vụ Pháp chế cùng các đơn vị liên quan hoàn thiện dự thảo theo hướng khả thi, không gây gián đoạn nguồn cung và không làm phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết.
Đây cũng là bài toán cần được giải quyết hài hòa trong quá trình hoàn thiện chính sách. Quản lý thiếu chặt chẽ có thể dẫn tới những rủi ro về chất lượng, an toàn, nguồn gốc, giá và hiệu quả sử dụng thiết bị; nhưng nếu các quy định tạo thêm thủ tục, kéo dài thời gian hoặc làm tăng chi phí không cần thiết, nguồn cung cho các cơ sở khám, chữa bệnh có thể bị ảnh hưởng. Một chuỗi cung ứng bền vững vì thế phải đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý chặt chẽ, vận hành thông suốt và có đủ khả năng thích ứng trước những tình huống bất thường.
Siết chuẩn chất lượng ngành Răng Hàm Mặt, bảo đảm an toàn người bệnh
PGS-TS.Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội, Chủ tịch Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam đánh giá ngành Răng Hàm Mặt trong nước thời gian qua đã có những bước phát triển và hội nhập đáng ghi nhận. Nhiều kỹ thuật đã trở thành thường quy, tiệm cận trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực. Kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu và thiết bị mới ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong khám, chữa bệnh và đào tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu điều trị trong nước, đồng thời thu hút người nước ngoài, kiều bào về Việt Nam khám, chữa bệnh và học tập.
Tuy nhiên, phía sau những bước tiến về kỹ thuật vẫn tồn tại một nghịch lý đáng lưu ý. Trong khi kỹ thuật chuyên sâu và thiết bị hiện đại phát triển nhanh, tỷ lệ sâu răng cũng như mô hình bệnh tật chưa có sự chuyển biến tương xứng. Điều này cho thấy sự phát triển của ngành không thể chỉ được đo bằng số lượng kỹ thuật mới hay mức độ hiện đại của thiết bị, mà cần được nhìn nhận từ hiệu quả phòng bệnh, chất lượng điều trị và mức độ an toàn của người bệnh.
Những vấn đề nổi lên hiện nay tập trung vào ba nhóm chính gồm đào tạo, thực hành và đạo đức nghề nghiệp; thực thi các tiêu chuẩn, quy định pháp luật; chất lượng cơ sở điều trị và an toàn người bệnh. Bên cạnh đó, xu hướng thương mại hóa, quảng cáo hoặc chỉ định quá mức cũng tạo ra những thách thức mới đối với quản lý chuyên ngành.
Đáng chú ý, khu vực nha khoa tư nhân đang phát triển với tốc độ nhanh nhưng năng lực kiểm soát chưa theo kịp. Một số tồn tại được chỉ ra như hành nghề khi chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, thực hiện kỹ thuật xâm lấn không đúng quy định, chất lượng giữa các cơ sở chưa đồng đều, trong khi năng lực cấp cứu và kiểm soát nhiễm khuẩn vẫn còn khoảng cách.
PGS-TS.Trần Cao Bính cho rằng, giải pháp đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện thể chế, các quy định, quy trình và tiêu chuẩn kỹ thuật để tạo ra một chuẩn chung cho toàn ngành.
“Giải pháp thứ nhất là kiến nghị với các cơ quan cấp trên hoàn thiện thể chế, các quy định, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật để tất cả các cơ sở đào tạo, cơ sở điều trị thực hiện đúng, đủ; phải bảo đảm an toàn và đặt quyền lợi người bệnh lên trên hết”, ông Trần Cao Bính nhấn mạnh.
Bên cạnh hoạt động khám, chữa bệnh tại các cơ sở nha khoa, quản lý labo phục hình răng được các chuyên gia xác định là một trong những vấn đề cần sớm hoàn thiện. Hiện điều kiện hoạt động, hồ sơ giao nhận, nguồn gốc vật liệu cũng như trách nhiệm giữa labo, đơn vị cung ứng và cơ sở sử dụng răng giả chưa được thống nhất đầy đủ, gây khó khăn cho truy xuất nguồn gốc và xác định trách nhiệm nếu xảy ra sự cố.
PGS-TS.Trần Cao Bính cho biết hiện vẫn chưa có đầy đủ quy chuẩn, tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, quy trình sản xuất, đăng ký và lưu hành sản phẩm của các labo phục hình răng. Đây là khoảng trống cần được khắc phục.
“Các cơ quan quản lý cần ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường hậu kiểm, kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm”, Chủ tịch Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam đề xuất.
Yêu cầu tăng cường hậu kiểm càng trở nên đáng chú ý trong bối cảnh thị trường nha khoa phát triển nhanh, nhiều kỹ thuật mới liên tục được ứng dụng và nhu cầu thẩm mỹ răng miệng ngày càng lớn. Cùng với hoàn thiện quy định, khả năng phát hiện và xử lý vi phạm trong thực tế sẽ quyết định hiệu lực của chính sách, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh công bằng giữa các cơ sở tuân thủ nghiêm quy định với những đơn vị hoạt động không bảo đảm điều kiện.
Theo PGS-TS.Trần Cao Bính, những vấn đề được đặt ra tại hội thảo không nhằm chỉ ra các hạn chế đơn thuần, mà quan trọng hơn là tìm kiếm những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và củng cố niềm tin của người dân. Các nội dung thảo luận trải rộng từ đào tạo, chất lượng chuyên môn đến tuân thủ pháp luật, với sự tham gia của cơ quan quản lý và các chuyên gia trong ngành, qua đó tạo thêm cơ sở để xác định những nhiệm vụ cần ưu tiên trong thời gian tới.
Đặc biệt, Việt Nam sẽ triển khai kỳ kiểm tra quốc gia đánh giá năng lực hành nghề nhằm chuẩn hóa chất lượng nguồn nhân lực đầu ra. Điều này càng đặt ra yêu cầu phải gắn chặt chất lượng đào tạo với năng lực thực hành, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của người hành nghề.
Chủ tịch Hội Răng Hàm Mặt Việt Nam nhấn mạnh ngành cần tiếp tục phát triển trên nền tảng những thành tựu đã đạt được, đồng thời chủ động nhận diện và khắc phục các điểm còn hạn chế. Mục tiêu là nâng cao chất lượng điều trị, bảo đảm an toàn và quyền lợi người bệnh, đưa ngành Răng Hàm Mặt Việt Nam phát triển theo hướng chuẩn hóa, an toàn, minh bạch, chuyên nghiệp, bền vững và hội nhập; đồng thời tăng cường phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe răng miệng theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
-
Tin mới y tế ngày 13/8: Tăng quyền lợi, củng cố “lá chắn” bảo hiểm y tế -
Việt Nam đón dòng khách chữa bệnh quốc tế, mở ra thị trường tỷ USD -
Hà Nội vào cao điểm sốt xuất huyết, 46 đoàn kiểm tra được triển khai -
Tin mới y tế ngày 11/8: Toàn quốc xây dựng mạng lưới cấp cứu ngoại viện -
Làm sạch thị trường dược liệu để bảo vệ giá trị y học cổ truyền -
Chuẩn hóa nuôi cấy tế bào gốc, đặt nền móng cho y học tái tạo -
Hà Nội duyệt dự án khu phức hợp y tế hơn 14.200 tỷ đồng
-
1
Dòng tiền P-Notes có dấu hiệu trở lại trên thị trường chứng khoán -
2
Tín hiệu thuận cho Dự án cao tốc Bắc Kạn - Cao Bằng vốn 29.300 tỷ đồng -
3
Quảng Trị rà soát công tác chuẩn bị khai trương đường bay Đồng Hới - Cam Ranh -
4
KCN Cam Liên hơn 2.200 tỷ đồng tăng tốc giải phóng mặt bằng, triển khai hạ tầng
-
Từ Bắc Ninh đến Lương Hòa: Kịch bản trỗi dậy của một vùng đất bản lề -
Từ cuộc đua tăng vốn đến cuộc đua chất lượng tăng trưởng của tổ chức tín dụng -
Danko Riverside - “Bản giao hưởng” của những giai điệu tinh tuyển tại Bắc Ninh -
4 điểm nghẽn chính sách đang cản trở phát triển ngành năng lượng Việt Nam -
Mở khóa dòng vốn đầu tư cho ngành năng lượng -
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 12/8/2026

