-
TP.HCM rà soát các dự án đầu tư, nhiều dự án có tỷ lệ giải ngân thấp -
Quảng Trị rà soát tiến độ các dự án truyền tải điện do EVN đầu tư -
Quảng Trị xử lý 34 dự án chậm tiến độ tại các khu kinh tế, khu công nghiệp -
Lãnh đạo Quảng Trị "thúc" tiến độ các dự án cảng biển tại Khu kinh tế Hòn La -
Hưng Yên tạo lực đẩy mới cho chuyển đổi số -
Bắc Ninh cần chuyển sang thu hút đầu tư theo chất lượng, hiệu quả, khả năng lan tỏa
| TPP sẽ tạo nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam |
Kim ngạch xuất khẩu năm 2014 của Việt Nam vào TPP đạt 58,4 tỷ USD, chiếm 38,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đó là tỷ trọng khá cao. Trong tổng số 23 thị trường đạt từ 1 tỷ USD trở lên, thì TPP có 7 thị trường, lớn nhất là Hoa Kỳ (28,66 tỷ USD), tiếp đến là Nhật Bản (14,7 tỷ USD), Australia (3,99 tỷ USD), Malaysia (3,93 tỷ USD), Canada (2,08 tỷ USD), Mexico (1,04 tỷ USD).
Trong 6 tháng năm 2015, xuất khẩu vào TPP đạt 29,8 tỷ USD, chiếm 38,3% tổng số. Mới qua nửa năm đã có 6 thị trường đạt trên 1 tỷ USD (Hoa Kỳ 15,7 tỷ USD, Nhật Bản 6,7 tỷ USD, Malaysia 1,7 tỷ USD, Singapore 1,66 tỷ USD, Australia 1,55 tỷ USD, Canada 1,13 tỷ USD).
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào TPP năm 2014 mới chiếm khoảng 1% tổng kim ngạch nhập khẩu của các nước này, trong đó có 5 thị trường đạt trên 1% (Malaysia, Nhật Bản, Australia, Brunei). Điều đó cho thấy, TPP là thị trường còn nhiều tiềm năng.
Trong quan hệ buôn bán hàng hoá với TPP, Việt Nam ở vị thế xuất siêu lớn (năm 2014 xuất siêu tới 24,12 tỷ USD; 6 tháng 2015 xuất siêu 11,23 tỷ USD). Trong 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam xuất siêu sang 7 thị trường (Hoa Kỳ 11,9 tỷ USD, Canada 0,93 tỷ USD, Mexico 0,47 tỷ USD, Australia 0,63 tỷ USD, Chile 0,16 tỷ USD, Brunei 0,01 tỷ USD, Peru 0,1 tỷ USD) và nhập siêu với 4 thị trường (Singapore 1,99 tỷ USD, Nhật Bản 0,6 tỷ USD, Malaysia 0,32 tỷ USD, New Zealand 0,06 tỷ USD). Khả năng cả năm, Việt Nam xuất siêu vào TPP khoảng 24,3 tỷ USD (trong đó riêng Hoa Kỳ có thể cán mốc 26,5 tỷ USD).
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký của những dự án còn hiệu lực của các thành viên TPP vào Việt Nam tính từ năm 1988 đến nay đạt 100,5 tỷ USD, chiếm 39,1% tổng lượng vốn FDI vào Việt Nam. Đây là một trong những yếu tố góp phần đưa tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam vào TPP đạt tỷ trọng cao như đã nêu ở trên. Trong các thành viên TPP đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, đứng đầu là Nhật Bản (37,61 tỷ USD), tiếp đến là Singapore (33,10 tỷ USD), Hoa Kỳ (11,07 tỷ USD), Malaysia (10,80 tỷ USD), Canada 5 tỷ USD... Trong 22 quốc gia và vùng lãnh thổ có FDI vào Việt Nam đạt trên 1 tỷ USD, thì TPP có 7.
Khách quốc tế từ các nước thành viên TPP chiếm 26,5% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2014. Đông nhất là du khách đến từ Nhật Bản, tiếp đến là Hoa Kỳ, Malaysia, Australia, Singapore. Trong 6 tháng năm 2015, lượng khách quốc tế từ TPP đến Việt Nam chiếm tỷ trọng 28,5%. Dự báo cả năm 2015 sẽ có khoảng 2,1 triệu lượt khách từ TPP đến Việt Nam.
Cơ hội rõ nhất là xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng trưởng cao hơn, khi có đến 90% dòng thuế nhập khẩu sẽ được hạ về mức 0%. Đây là điều kiện để Việt Nam cơ cấu lại thị trường nhập khẩu, cân bằng được quan hệ thương mại với các thị trường khác, nhất là với các thị trường châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan.
Để tận dụng cơ hội, cần nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển công nghiệp hỗ trợ, bởi theo quy tắc “xuất xứ”, xuất khẩu vào các thành viên TPP, muốn được hưởng thuế suất thấp, phải có nguyên liệu tự sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các thành viên TPP.
Một cơ hội quan trọng khác là vốn FDI của các nước thành viên TPP vào Việt Nam sẽ gia tăng để tận dụng cơ hội hưởng thuế suất xuất khẩu thấp vào TPP. Do vậy, cần tập trung hơn đối với các thành viên của TPP, nhất là những nền kinh tế có kỹ thuật - công nghệ nguồn để có sức cạnh tranh lâu dài với hàng nhập khẩu cũng như xuất khẩu.
Tham gia TPP tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam, song nó cũng đòi hỏi nước ta phải tăng cường cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính thị trường, đẩy mạnh công cuộc tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng, đổi mới thể chế.
Thách thức lớn nhất và dễ thấy nhất là sức ép cạnh tranh khi thuế suất nhập khẩu từ TPP hạ về 0%. Những ngành sản xuất chịu nhiều sức ép cạnh tranh do giảm thuế suất thuế nhập khẩu về 0% là ô tô, thịt lợn, thịt bò và đường; những ngành thực phẩm chế biến, rượu và hoá phẩm tiêu dùng; những mặt hàng còn được bảo hộ cao như muối, lá thuốc lá, trứng gia cầm, thép, giấy… Các ngành dịch vụ chịu sức ép cạnh tranh lớn là ngân hàng, thương mại bán lẻ, viễn thông, vận tải, bảo hiểm, tài chính với nước ngoài.
Một thách thức quan trọng khác là nguồn thu thuế nhập khẩu giảm sẽ ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước.
-
Hưng Yên tạo lực đẩy mới cho chuyển đổi số -
Bắc Ninh cần chuyển sang thu hút đầu tư theo chất lượng, hiệu quả, khả năng lan tỏa -
Đấu thầu tìm chủ đầu tư cho 3 dự án điện gió công suất 100MW tại Gia Lai -
Tập đoàn năng lượng Hoa Kỳ xúc tiến đầu tư điện gió ngoài khơi tại TP.HCM -
TP.HCM chấp thuận tăng tổng vốn đầu tư dự án Tổ hợp Hóa dầu miền Nam lên hơn 6,1 tỷ USD -
Chủ tịch tỉnh Đắk Lắk phê bình 1 Ban quản lý dự án chậm giải ngân vốn đầu tư công -
Lao động ở nước ngoài đóng góp hàng tỷ USD mỗi năm
-
VietinBank khẳng định năng lực chuyển đổi số sau ba năm triển khai X01 -
Stavian muốn phát triển hạ tầng siêu trí tuệ tại Việt Nam -
LOTTE MART triển khai nhiều ưu đãi mua sắm dịp 20/10, giảm giá đến 50%
-
Viettel tung 4 gói cước 5G độc quyền trên Tammi với nhiều ưu đãi hơn -
GSK đồng hành cùng cộng đồng y khoa nâng cao nhận thức và cập nhật tiến bộ khoa học về hen nặng tại Việt Nam -
Cập nhật giá đơn vị Quỹ liên kết đơn vị của AIA Việt Nam ngày 14/10/2026
