-
Bước nước rút tại 2 dự án cao tốc địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc -
TP.HCM phê duyệt 4.288 tỷ đồng để giải phóng 18,2 km mặt bằng làm đường Vành đai 4 -
Quảng Ngãi tháo gỡ dự án Khu công nghiệp Sao Mai -
Đắk Lắk cần hơn 12.200 tỷ đồng giải phóng mặt bằng dự án đường sắt tốc độ cao
-
Quảng Ninh phân bổ hơn 2.338 tỷ đồng cho loạt dự án hạ tầng, an sinh -
Làm rõ kịch bản đầu tư Dự án xây dựng đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng
Cụ thể, mục tiêu quản lý rủi ro nhằm đảm bảo cơ cấu nợ công hợp lý, phù hợp với mục tiêu, định hướng đặt ra trong kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm đã được Quốc hội quyết định; đảm bảo khả năng trả nợ trong trung hạn và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ công; giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong tình huống xấu nhất với chi phí phát sinh hợp lý.
Về nguyên tắc xử lý rủi ro, việc xem xét xử lý rủi ro được thực hiện cho từng trường hợp cụ thể căn cứ vào mức độ tổn thất có thể xảy ra và nguyên nhân dẫn đến rủi ro; việc phòng ngừa và xử lý rủi ro phải căn cứ vào thoả thuận vay hoặc công cụ nợ gốc trong danh mục nợ công hiện hành, nguyên nhân phát sinh rủi ro, phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Việc phòng ngừa rủi ro đối với danh mục nợ công phải thực hiện phù hợp với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ hằng năm; tổ chức, cá nhân sử dụng vốn vay sai mục đích, cố ý làm trái quy định làm phát sinh rủi ro nợ công phải chịu trách nhiệm xử lý và bồi thường theo quy định của pháp luật.
Rủi ro đối với nợ công bao gồm: Rủi ro về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ do biến động trên thị trường tài chính; rủi ro thanh khoản do thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết, bao gồm khả năng trả nợ của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; rủi ro do biến động thị trường tài chính ảnh hưởng đến việc huy động vốn dẫn đến phải đảo nợ với chi phí cao hoặc mất khả năng đảo nợ; rủi ro tín dụng do đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh không trả được nợ đầy đủ, đúng hạn; các loại rủi ro khác có thể ảnh hưởng đến an toàn nợ công.
Việc quản lý rủi ro tín dụng của đối tượng được vay lại, đối tượng được bảo lãnh Chính phủ thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ; Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ.
Đánh giá rủi ro
Nội dung chủ yếu của việc đánh giá rủi ro gồm: Phân tích tình hình kinh tế vĩ mô, tài khóa, tiền tệ, tỷ giá, lãi suất và biến động của thị trường vốn trong nước và quốc tế có tác động đến nợ công; phân tích, đánh giá diễn biến về cơ cấu đồng tiền, lãi suất, kỳ hạn, quy mô, nghĩa vụ trả nợ công, hiện tại và xu hướng tương lai nhằm nhận diện mức độ rủi ro để có biện pháp xử lý rủi ro phù hợp; tính toán mức độ rủi ro, dự kiến chi phí phòng ngừa và xử lý rủi ro trong trường hợp rủi ro xảy ra.
Bộ Tài chính đánh giá rủi ro đối với nợ công, bao gồm nợ Chính phủ, nợ chính quyền địa phương và nợ được Chính phủ bảo lãnh; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đánh giá rủi ro đối với nợ của chính quyền địa phương, bao gồm vay lại vốn vay ODA và vay ưu đãi của Chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương và các khoản nợ khác của chính quyền địa phương.
Việc đánh giá rủi ro được thực hiện định kỳ gắn với kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm, chương trình quản lý nợ công 3 năm và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm. Trên cơ sở đánh giá rủi ro, Bộ Tài chính đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ công; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất các giải pháp để phòng ngừa rủi ro đối với nợ của chính quyền địa phương.
Các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro
Nghị định cũng quy định các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro. Cụ thể, đối với phòng ngừa và xử lý rủi ro về lãi suất và tỷ giá ngoại, sử dụng các công cụ phái sinh về lãi suất và đồng tiền.
Đối với việc phòng ngừa và xử lý rủi ro thanh khoản gồm: bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo quy định tại Điều 54 Luật Quản lý nợ công; phát hành công cụ nợ để đảm bảo thanh khoản; cơ cấu lại kỳ hạn của các khoản nợ, mua lại nợ, hoán đổi khoản nợ hoặc đàm phán gia hạn nợ.
Đối với phòng ngừa và xử lý rủi ro do biến động thị trường tài chính gồm: phát triển thị trường vốn trong nước; nâng cao hệ số tín nhiệm quốc gia để tiếp cận thị trường vốn quốc tế.
Căn cứ vào đánh giá rủi ro và mức độ ảnh hưởng của rủi ro đối với từng khoản nợ hoặc với danh mục nợ, Bộ Tài chính xây dựng đề án cơ cấu lại nợ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và tổ chức thực hiện; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phương án cơ cấu lại nợ của chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện.
-
Rà soát tổng thể Quy hoạch hệ thống cảng hàng không -
Các Bộ hoàn thành cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trước 20/5/2026 -
Đà Nẵng phân loại, tháo gỡ khó khăn cho các dự án vốn ngoài ngân sách -
Kiến tạo lối đi riêng cho trung tâm tài chính TP.HCM -
Cắt giảm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện: Phá vỡ “tảng băng” tư duy tiền kiểm -
Bố trí các tuyến đường sắt trong phạm vi Cảng hàng không quốc tế Long Thành -
Gia Lai: Gần 170 dự án, tổng vốn đầu tư hơn 46.000 tỷ đồng sắp được khởi công
-
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026 -
Heineken Việt Nam cam kết phát triển bền vững cùng Đà Nẵng và miền Trung -
Doanh nghiệp SME giao dịch ngoại tệ tại VPBank nhận nhiều ưu đãi hấp dẫn -
Sài Thành Foods: Chuyên nghiệp hóa chuỗi giá trị phân phối thủy hải sản Việt -
Diamond Hill Thái Nguyên khai trương tầng thực tế, hiện thực hóa chuẩn sống cao cấp giữa trung tâm thành phố -
Đầu tư phòng thí nghiệm dược: Khi thiết bị chưa đủ để tạo hiệu quả
