Kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, những cải cách về kinh tế và mở lối cho kinh tế thị trường đã trở thành “ngọn hải đăng” cho sự thay đổi thần kỳ trong phát triển kinh tế - xã hội.

 

Trong tiến trình đó, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) ký kết ngày 13/7/2000, có hiệu lực từ ngày 10/12/2001, đã mở ra cánh cửa hội nhập cho Việt Nam, mở đường cho Việt Nam đàm phán và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng như đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương khác.

 

Sức nặng pháp lý của BTA đã góp phần giúp Việt Nam làm vỡ tảng băng trì trệ của nền kinh tế bao cấp; làm nghiêng đổ những chiếc cột đồng chống đỡ nền kinh tế “xin - cho”; bẻ gãy chiếc then cài cổng cho gió WTO thổi vào từng phòng họp, hội trường, từng giảng đường, thư viện; tháo tung chiếc hộp pháp lý được sản xuất bằng chất liệu “độc quyền” và “phân biệt đối xử”.

 

Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan và bà C.Barshefsky, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ tại lễ ký Hiệp định BTA, ngày 13/07/2000 (Ảnh: TTXVN)

 

Như một sự sắp đặt, trong những ngày tháng Tám lịch sử, dưới nắng vàng lộng lẫy và dịu dàng của mùa thu Hà Nội, phóng viên Báo Đầu tư có cuộc trò chuyện cởi mở với ông Joe Damond, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) phía Hoa Kỳ trong 5 năm từ 1995 – 2000.

 

Trong suốt 27 năm qua, ông Joe Damond luôn giữ mối liên hệ gắn bó mật thiết với Việt Nam. Ông luôn coi việc đàm phán thành công BTA là thành quả lớn nhất đời mình. Ông Joe Damond đã phát triển tình bạn trân quý, sâu sắc với ông Nguyễn Đình Lương, người đồng nhiệm phía Việt Nam trong đàm phán BTA.

 

Tình bạn của hai đối thủ trên bàn đàm phán thương mại đầy cạnh tranh đến từ hai nước cựu thù là một ví dụ tuyệt đẹp về tình bạn giữa các quốc gia, và cũng là minh chứng về lòng bao dung, tinh thần yêu chuộng hòa bình của người Việt Nam.

 

 

Trong bộ vest lịch lãm, nụ cười thân thiện, ánh mắt biết cười và phong thái chuyên nghiệp của một nhà ngoại giao lọc lõi, ông Joe Damond chia sẻ những câu chuyện đầy xúc cảm về cơ hội và lối rẽ của nền kinh tế Việt Nam sau BTA và cả khát khao cháy bỏng được góp sức để đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong ngành sinh dược học toàn cầu.

 

Qua câu chuyện, khi nói về những người bạn Việt Nam, về Việt Nam, ông Joe Damond thường đặt bàn tay của mình lên ngực trái như một lời khẳng định: “Việt Nam - Trái tim tôi đã chọn”.

 

Ông Joe Damond và ông Nguyễn Đình Lương trên bàn đàm phán Hiệp định BTA (Ảnh: nhân vật cung cấp)

 

 

 Ông Joe Damond và ông Nguyễn Đình Lương hội ngộ tại Việt Nam trong chương trình Đối thoại đầu tuần với chủ đề "Việt Nam - Cơ hội và lối rẽ của một nền kinh tế" của Báo Đầu tư, phát sóng ngày 29/8/2022, nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2022).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mở đầu câu chuyện với ông Joe Damond, chúng tôi muốn kể lại một chương quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, từ khi đàm phán BTA đến nay. Đó là “Cho thương mại một cơ hội” như tựa đề cuốn sách của ông Joe Damond xuất bản năm 2013, là “Việt Nam - Lối rẽ của một nền kinh tế” như tựa đề cuốn sách của ông Nguyễn Đình Lương xuất bản năm 2021, là sự hàn gắn, là hội nhập, phát triển và trỗi dậy của nền kinh tế Việt Nam.

 

Trong đó, ông Joe Damond là một trong những người Mỹ đã và đang hết lòng đóng góp cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.

Là Trưởng đoàn đàm phán BTA của Hoa Kỳ, trong 5 năm 1995 - 2000, và là một người rất yêu mến đất nước Việt Nam, theo quan sát của ông, kinh tế Việt Nam đã phát triển như thế nào trong 27 năm qua kể từ lần đầu ông đến “đất nước hình chữ S” năm 1995?

 

- Trong 5 năm 1995 - 2000, mặc dù không sinh sống tại Việt Nam, nhưng tôi đã đi lại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam rất nhiều lần. Kể cả khi kết thúc đàm phán BTA, tôi cũng thường xuyên đến thăm và làm việc tại “đất nước hình chữ S”, vì tôi có rất nhiều bạn bè ở đây, bao gồm cả những người bạn tôi quen trong 5 năm đàm phán.

 

Tôi đã học hỏi được rất nhiều từ họ và từ đất nước Việt Nam. Vì thế, sau khi kết thúc công việc tại Chính phủ Hoa Kỳ, tôi đã xác định sẽ quay trở lại Việt Nam, ít nhất vài năm một lần. Và sau chuyến đi này, có lẽ tôi sẽ tới Việt Nam thường xuyên hơn. Việt Nam là nơi tâm hồn tôi trú ngụ, nơi trái tim tôi đã chọn, nơi tràn ngập hạnh phúc và cả những tình bạn chân thành. (cười tươi).

 

Ngay từ Sân bay Quốc tế Nội Bài, với quy mô lớn hơn, hiện đại hơn, tôi đã nhận thấy sự thay đổi của Việt Nam rất mạnh mẽ trong 27 năm qua. Chuyến đi từ sân bay về khách sạn cũng mất ít thời gian hơn trước rất nhiều.

 

Mọi thứ tại Thủ đô Hà Nội và Việt Nam đã thay đổi, nhưng tôi luôn luôn nhận thấy sự năng động ở nơi đây. Trước đây, trên đường phố chủ yếu chỉ xe đạp và xe máy, rất hiếm xe ô tô, nhưng ngay từ khi đó, tôi vẫn cảm nhận được những tiềm năng phong phú mà không phải quốc gia nào cũng có được.

 

Bây giờ, đi đâu tôi cũng nhìn thấy nhiều nhà hàng, quán cà phê và rất nhiều doanh nghiệp. Tôi nghĩ, đó là kết quả của những thành tựu mà chúng tôi đã góp phần đạt được trong nỗ lực đàm phán BTA trong khoảng thời gian 1995 - 2000.

 

 

Thưa ông, đàm phán BTA đã kéo dài tới 5 năm, “chìa khóa” nào đã giúp hai bên cùng nhau tìm kiếm, gọt giũa và tỉ mẩn lắp ghép từng mảnh nhỏ của niềm tin, hy vọng để tạo nên một bức tranh BTA mang tới những kết quả đẹp như hiện tại?

 

- Đàm phán hiệp định thương mại song phương là một công việc không dễ dàng. Theo tôi, “chìa khóa” cho sự thành công là sự hợp tác và tình thân mà tôi cùng trưởng đoàn đàm phán Việt Nam - ông Nguyễn Đình Lương tạo dựng.

 

 

Mặc dù trong quá trình đàm phán, có nhiều hiểu lầm và thiếu sót ở mỗi phía, nhưng cuối cùng, chúng tôi đã tìm được “lời giải” chung là không tranh cãi và nói lời chua chát. Tôi học được rằng, cách tốt nhất khi làm việc với Việt Nam là xây dựng tình bạn chân thành và sự tôn trọng lẫn nhau, nhưng vẫn phải giữ gìn sự trung thực và thẳng thắn.

 

Ông có thể chia sẻ đôi chút về tình bạn giữa ông và người đồng nhiệm phía Việt Nam của mình - ông Nguyễn Đình Lương. Trong quá trình đàm phán BTA, ông thấy những đặc điểm gì trong phong cách ngoại giao, đàm phán của ông Nguyễn Đình Lương và các thành viên đoàn Việt Nam khiến ông cảm thấy ngạc nhiên, bất ngờ?

 

- Tôi cảm thấy mình may mắn khi ông Nguyễn Đình Lương là Trưởng đoàn đàm phán phía Việt Nam bởi vì ông ấy cực kỳ thông thái. Ông ấy bộc trực, mềm dẻo, linh hoạt, nhưng lại rất kiên định đối với các lợi ích của Việt Nam.

 

Lúc đó, chúng tôi nghĩ xem làm thế nào để Việt Nam có thể điều chỉnh, thích nghi cùng với hệ thống thương mại toàn cầu WTO, hệ thống thương mại quốc tế mà Hoa Kỳ đã tạo ra sau chiến tranh thế giới thứ hai.

 

Cá nhân tôi là chuyên gia về hệ thống thương mại, tôi đã học nó và hiểu biết nó rất rõ. Thế nhưng, ông Nguyễn Đình Lương lại hoàn toàn khác. Ông ấy được đào tạo ở Liên Xô và nói tiếng Nga. Hệ thống này không phải là một thứ mà một người Việt Nam như ông Lương lúc đó hiểu rõ. Song ông Nguyễn Đình Lương đã học và hiểu về nó một cách rất nhanh chóng để có đủ kiến thức để đàm phán với chúng tôi.

 

Tôi còn nhớ rất rõ là để bù đắp phần thiếu hụt về kiến thức thương mại quốc tế hiện đại, ông Lương đã cùng các cộng sự mò mẫm, “xới tung” hàng trăm văn bản pháp lý của WTO.

 

Suốt 5 năm, cuộc sống của ông chỉ xoay quanh những chương, điều khoản và hằng hà sa số văn bản về luật thương mại quốc tế mà ông liên tục phải tham khảo. Hễ cứ rời bàn đàm phán, ông lại trở về căn phòng ở trụ sở Bộ Thương mại và làm việc không biết đến ngày nghỉ.

 

Không chỉ ông Nguyễn Đình Lương, các thành viên đội ngũ đàm phán của Việt Nam đều như thế. Họ rất chăm chỉ và họ đọc rất nhiều tài liệu. Thế nên, mặc dù cảm quan chung lúc đó là nước Mỹ phát triển hơn Việt Nam rất nhiều, nhưng thực tế lại không giống như một cuộc đàm phán chỉ có lợi thế nghiêng về một phía.

 

 

Như vậy, ở phía Hoa Kỳ, chúng tôi ban đầu là bên hiểu biết hơn do khi hai bên bắt đầu đàm phán, nền kinh tế với quy mô nhỏ bé của Việt Nam vẫn chưa hết khó khăn sau thời gian dài chiến tranh, còn Hoa Kỳ đã là người khổng lồ kinh tế. Thế nhưng, người Việt Nam đã bắt kịp với nhịp đàm phán rất nhanh và điều này khiến tôi vô cùng ngạc nhiên.

 

Tháng 5/1998, ông Lương cùng các cộng sự đã trao cho chúng tôi bản dự thảo được thiết kế lại dựa theo nguyên tắc và luật chơi của GATT/WTO, có nhiều điểm khác xa so với bản mà phía Hoa Kỳ đã trao cho Việt Nam hồi tháng 4/1997. Trong đó, có chương dịch vụ và nhiều điều khoản khác gần như được viết lại hoàn toàn.

 

Khi đó, tôi nói với ông Lương rằng: “Chúng tôi quá ngạc nhiên về sự tiến bộ của Việt Nam. Làm bạn với một đối tác như các ông, chúng tôi thấy cũng vui lòng”.

 

 

Một điều nữa tôi muốn chia sẻ là kinh nghiệm của tôi khi đàm phán với các quốc gia châu Á như Nhật Bản, người trưởng đoàn đàm phán luôn luôn là một người lớn tuổi và ông ấy sẽ là người duy nhất phát biểu, còn những người khác trong đoàn chỉ im lặng và lắng nghe.

 

Nhưng ông Nguyễn Đình Lương không như thế. Ông ấy khiến cho tôi rất bất ngờ. Ông ấy nói với đội ngũ của mình là các bạn có thể hỏi ông Joe Damond bất kỳ thắc mắc nào. Và nếu không hiểu cái gì thì cứ hỏi.

 

Thế nên, phần lớn thời gian của các cuộc đàm phán, tôi đã phải trả lời tất cả các câu hỏi từ mọi bộ, ngành của Việt Nam tham gia vào cuộc đàm phán lúc đó. Khoảng 20 đến 30 người trong một phòng họp và họ được ông Lương trao quyền, được giơ tay và hỏi bất cứ lúc nào. Tôi thấy, đó là một quyết định vô cùng sáng suốt và đúng đắn.

 

Giai đoạn 5 năm đàm phán, khi đó tôi rất trẻ, mới hơn 30 tuổi, còn ông Lương lớn hơn tôi 21 tuổi. Tôi rất nể trọng sự trung thực của ông Lương mỗi khi có một vấn đề gì đó phát sinh bên phía Việt Nam. Ông ấy không bao giờ nổi giận cả. Dần dần, chúng tôi có sự tin tưởng gần như tuyệt đối với nhau.

 

Thế nên, vào giai đoạn cuối của cuộc đàm phán nhiệm vụ của tôi là phải làm sao để Chính phủ Hoa Kỳ hiểu rằng đây là một Hiệp định tốt cho cả hai bên. Có những thứ, Việt Nam không thể làm theo yêu cầu của chúng tôi thì tôi phải quyết định xem đâu là điểm ở giữa. Điều này rất khó khăn cho tôi.

 

 

Nhưng về phía ông Lương thì còn khó khăn hơn rất nhiều. Bởi lẽ, khi đàm phán BTA, Việt Nam mới khởi động quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Lúc đó, Việt Nam còn điều hành nền kinh tế mệnh lệnh tập trung theo cách của mình, mà mục tiêu là “xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ”.

 

Trong khi đó, đàm phán BTA thiết kế một khung pháp lý điều tiết mọi hoạt động kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ theo định hướng một nền kinh tế thị trường. Khung pháp lý này được thiết kế dựa trên những chuẩn mực, quy định của WTO, những chuẩn mực còn xa lạ đối với hệ thống luật pháp xã hội chủ nghĩa của Việt Nam thời đó. Đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài…

 

Một khung pháp lý mới như vậy không thể tránh khỏi những “va đập” với khung pháp lý hiện hành lúc đó của Việt Nam. Hơn thế nữa, nó còn đòi hỏi Việt Nam phải gần như làm mới hệ thống pháp luật để khớp với luật lệ quốc tế.

 

Đó chỉ là một trong những khó khăn làm minh họa cho chúng ta thấy rằng, ông Lương đã làm rất tốt việc điều phối giữa các bên để tạo ra sự thấu hiểu.

 

Cả hai chúng tôi đều vô cùng linh hoạt và phải cố gắng trung thực nhất với đối phương. Và tôi phải tin tưởng những gì ông Lương nói. Cuối cùng, chúng tôi đã cố tìm cho được những cái có thể giữa muôn vàn cái không thể, tìm cho được cái chung trong muôn vàn cái khác biệt, chăm chút từng mũi kim để gỡ dần những cuộn chỉ rối, nhặt từng hạt cát, viên sỏi để lấp đầy hố sâu ngăn cách.

 

 

Trong 5 năm đàm phán, xuất phát từ sự không hiểu gì về nhau chúng tôi đã phát triển được một tình bạn đẹp. Đó là điều tôi vô cùng trân quý, ngạc nhiên. Và đến tận bây giờ, tôi đang có một tình bạn cá nhân đáng quý với ông Lương. Đó là một trải nghiệm đẹp với cá nhân tôi.

 

Tôi còn nhớ, thời đó mọi thứ diễn ra rất khác bây giờ. Việc đi lại giữa hai nước không dễ dàng như bây giờ. Tôi mới hơn 30 tuổi, con trai đầu tiên của tôi sinh năm 1990, con gái sau sinh năm 1993, và vào năm 1995, các cháu còn rất nhỏ. Khi tham gia đàm phán BTA, một năm tôi bay đến Việt Nam rất nhiều lần. Hồi đó, chưa có Internet, mà chỉ có máy fax, nên việc bay qua bay lại là cách duy nhất để có thể đàm phán được với nhau.

 

Nhưng bây giờ nhìn lại thì tôi thấy việc không có Internet thậm chí là việc tốt hơn. Lý do là vì, khi có mặt ở một đất nước nào đó, bạn có thể học hỏi được ở đất nước đó nhiều hơn nữa. Tôi hay nói với mọi người rằng, là cách duy nhất để hiểu về một quốc gia là phải hít thở bầu không khí ở quốc gia đó, đọc nhiều sách về quốc gia đó, gặp gỡ những con người và trải nghiệm văn hóa của quốc gia đó.

 

 

BTA có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế tại Việt Nam, đặc biệt trong việc thu hút vốn đầu tư từ Hoa Kỳ vào Việt Nam, theo ông, BTA có ý nghĩa như thế nào?

 

- Cá nhân tôi nhận thấy BTA đã tạo ra sự bùng nổ về thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong hơn 20 năm qua.

 

Tôi nghĩ rằng, tiến trình thực hiện Hiệp định dài 130 trang này rất hiệu quả. Trong BTA có rất nhiều yêu cầu đối với Việt Nam nên trong quá trình thực hiện có lẽ sẽ có rất nhiều vấn đề. Nhưng theo những gì tôi thấy thì nó đã biến Việt Nam thành một nơi hấp dẫn hơn rất nhiều đối với các nhà đầu tư và những doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam.

 

Tất nhiên, mọi người luôn luôn nói về chuyện xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ rất lớn. Nhưng tôi không nghĩ đó là một vấn đề lớn. Vì điều đó cho thấy là những công ty ở Mỹ đang có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và các loại hàng hóa mà họ không thể sản xuất được ở Mỹ. Và thực tế là các doanh nghiệp Mỹ cũng đang nhập nguyên liệu từ rất nhiều quốc gia châu Á khác. Tôi nghĩ là không có nhiều người ở Hoa Kỳ hiểu điều này.

 

 

Vậy trong thời gian tới, ông có nghĩ rằng, nếu cán cân thương mại được cân bằng hơn thì sẽ tốt hơn không?

 

- Theo như những gì tôi biết, rất hiếm có hai quốc gia nào có sự cân bằng hoàn toàn về cán cân thương mại. Sự mất cân bằng vì thế là điều rất bình thường. Tôi không nghĩ cán cân thương mại bằng nhau sẽ thực sự tốt. Chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến sự thông thương hiệu quả giữa hai bên hơn là sự cân bằng cán cân thương mại.

 

 

Ông Joe Damond chụp hình lưu niệm cùng lãnh đạo Bộ Y tế và các đại biểu sau buổi làm việc, ngày 17/8/2022.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

 

Cùng ngày (sáng 12/7/1995 theo giờ Việt Nam), Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước Việt Nam – Hoa Kỳ.

 

Một tháng sau, ngày 5/8/1995, tại Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm ký Nghị định thư, chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ.

 

Năm năm sau, ngày 13/7/2000, Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Charlene Barshefsky ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA) tại Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ sau nhiều vòng đàm phán.

 

Kể từ khi BTA có hiệu lực (ngày 10/12/2001), Hoa Kỳ áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và Quy chế tối huệ quốc (MFN), giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống 4%, mở cửa thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã trải qua nhiều gập ghềnh, đắng cay để phát triển lên hiện tại tươi sáng như ngày nay. Hai nước đã từ cựu thù trở thành bạn bè, đối tác. Thương mại từ mức rất khiêm tốn, đến nay đã phát triển bùng nổ.

 

Nếu như năm 1995, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Hoa Kỳ mới đạt 450 triệu USD; thì năm 2021 con số này đã tăng khoảng 250 lần lên mức 111 tỷ USD. Đặc biệt, kim ngạch song phương năm 2021 tăng gần 21 tỷ USD so với năm 2020, bất chấp đại dịch Covid-19 kéo dài và diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

Hiện nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Hoa Kỳ. Chúng ta đã đi từ sự nghi ngờ đến chỗ tin cậy lẫn nhau với rất nhiều chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo hai bên trong hơn 20 năm qua.

 

Có thể nói, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã phát triển trong tất cả các lĩnh vực bao gồm chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, quân sự, giáo dục, văn hóa, y tế… và mối quan hệ ấy vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển.

 

Ông Joe Damond cho rằng, Chính phủ Việt Nam cần lắng nghe và thấu hiểu mong muốn của các nhà đầu tư Hoa Kỳ và nước ngoài để điều chỉnh chính sách sao cho các quy định được cởi mở, thông thoáng hơn. Được vậy, chắc chắn nguồn vốn FDI vào Việt Nam sẽ còn tăng mạnh.

Ông nói rằng, có nhiều người bạn Hoa Kỳ đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Họ chia sẻ với ông những gì về đất nước của chúng tôi?

 

- Những người bạn Hoa Kỳ của tôi sống ở Việt Nam đều rất yêu thích đất nước này. Họ thường xuyên chia sẻ niềm đam mê, sự yêu thích và cả sự hãnh diện về nhịp sống, văn hóa, ẩm thực, cảnh đẹp, và con người Việt Nam. Tôi cũng cảm thấy cuộc sống ở “đất nước hình chữ S” không có nhiều áp lực như ở Hoa Kỳ. Dường như, cuộc sống tại Việt Nam luôn tràn đầy năng lượng, thoải mái và dễ dàng hơn.

 

Tất nhiên, người Hoa Kỳ nói riêng, người nước ngoài tại Việt Nam nói chung cũng phải thích ứng với những điều rất kỳ lạ. Ví dụ, bạn phải học cách để đi qua đường sao cho xe không đâm vào, việc này giống như một môn nghệ thuật vậy. Ở Hoa Kỳ, nếu bạn sang đường kiểu đó thì chắc chắn sẽ bị xe đâm vào. Tôi thì thấy, việc qua đường của người Việt Nam rất thư thái, nhẹ nhàng.

 

Tôi cũng rất thích văn hóa cà phê của Việt Nam với rất nhiều quán cà phê đẹp, gần gũi với thiên nhiên. Ở Hoa Kỳ, cũng có những quán cà phê, nhưng chúng tôi không ngồi thư thái như vậy, nhất là trong thời tiết mùa hè như thế này.

 

Là người am tường về mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ suốt gần 30 năm qua, ông có lời khuyên gì đối với các nhà đầu tư Việt Nam muốn sang Hoa Kỳ và ngược lại?

 

- Lời khuyên đầu tiên của tôi là ở bất cứ một quốc gia nào, khi bạn muốn làm kinh doanh ở nước đó, bạn phải hiểu văn hóa kinh doanh của nước họ. Bạn phải hiểu là những thứ ở Việt Nam diễn ra không y hệt như những gì đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Có rất nhiều thứ khi người Hoa Kỳ mới sang đây sẽ thấy cần phải sửa đổi. Tuy nhiên, những thứ đó lại là văn hóa rất bình thường của Việt Nam.

 

Bên cạnh đó, tôi cũng thấy rằng, người Việt Nam đã rất nhanh chóng học được văn hóa kinh doanh của người Hoa Kỳ, bởi vì nếu không thì họ đã không thành công như bây giờ.

 

Nhưng cũng có rất nhiều thứ người Việt Nam phải hiểu và phải thay đổi. Tôi muốn nhấn mạnh đến thị trường toàn cầu đang cạnh tranh khốc liệt và phát triển cực kỳ nhanh chóng. Bởi vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải táo bạo hơn trong những quyết định của mình và phải hiểu được rằng, thị trường toàn cầu không bao giờ chờ đợi ai.

 

 

Thỉnh thoảng, chúng ta hay có xu hướng nhìn xem người khác làm và thấy họ thành công rồi thì mới làm theo.

 

Tuy nhiên, Việt Nam cần phải nắm bắt được cơ hội để trở thành người tiên phong trong một lĩnh vực nào đó. Nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 phát triển mạnh mẽ, thị trường vận hành với tốc độ nhanh, nếu Việt Nam cứ chờ đợi để trở thành một phần của thị trường thì sẽ càng khó khăn hơn. Việc này, giống như cách một con tàu đi trên biển lớn và cần phải có người lái tàu lão luyện, dám đương đầu với rủi ro.

 

Thưa ông, sau hơn 20 năm triển khai Hiệp định BTA, ông có nhận thấy điểm gì cần phải thay đổi hay không?

 

- Tôi nghĩ rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ cần phải hành động quyết liệt hơn nữa trong việc thúc đẩy tiếp cận thị trường. Nói cách khác, Hiệp định thương mại là đòn bẩy rất tốt rồi do nó đã mở rộng quan hệ thương mại song phương Hoa Kỳ - Việt Nam và hai bên đã có được rất nhiều cơ hội từ BTA.

 

Tuy nhiên, Hiệp định BTA vẫn chưa được tận dụng một cách triệt để. Theo tôi, Việt Nam là một đối tác thương mại quan trọng đối với Hoa Kỳ và ở trong bối cảnh toàn cầu thì sẽ còn có nhiều lợi ích chung khác mà chúng ta có thể đạt được từ những Hiệp định Thương mại song phương như thế này.

 

 

Hiện nay, nhiều Đại sứ Hoa Kỳ có quan điểm rằng cần phải duy trì việc Hoa Kỳ là một trong 10 quốc gia có đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Theo ông, Chính phủ Việt Nam có thể làm gì để thu hút FDI từ các nhà đầu tư Hoa Kỳ hiệu quả hơn?

 

- Lợi thế của Việt Nam là có đội ngũ người lao động chăm chỉ và làm việc hiệu quả. Đây là một trong những yếu tố hàng đầu khiến các nhà đầu tư nước ngoài bị hấp dẫn. Và thực tế là có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư ở Việt Nam hàng thập kỷ. Một ví dụ là Nike. Từ khi chúng tôi đàm phán Hiệp định BTA hơn 20 năm trước thì Nike đã có mặt ở Việt Nam rồi.

 

Đối với những ngành sản xuất thì tôi nghĩ rằng bất cứ doanh nghiệp nước ngoài nào cũng thấy Việt Nam là điểm đến lý tưởng. Điều đó cho thấy một điều là chắc chắn Chính phủ Việt Nam đã làm tốt việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhất là ngành điện. Tuy nhiên, theo tôi, Việt Nam còn có nhiều tiềm lực để thu hút được nhiều nhà đầu tư ở các ngành, lĩnh vực khác.

 

Nếu Việt Nam bỏ bớt một số rào cản về mặt luật lệ, quy định hiện đang làm khó cho những nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam thì sẽ thu hút được nguồn vốn FDI lớn hơn từ các nhà đầu tư Hoa Kỳ nói riêng và từ các nhà đầu tư nước ngoài nói chung.

 

 

Tôi nghĩ rằng Chính phủ Việt Nam cần phải lắng nghe nhiều hơn những nhà đầu tư Hoa Kỳ muốn rót vốn vào Việt Nam. Việt Nam cần lắng nghe và thấu hiểu xem họ muốn có những sự điều phối, điều chỉnh nào từ Chính phủ để họ vận hành được thuận lợi hơn.

 

Việt Nam không cần phải chờ đợi một Hiệp định thương mại nào khác nữa để làm những điều đó do Hiệp định thương mại chỉ là một thứ bước đệm giúp cho mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Trong thực tế triển khai thì có lẽ Chính phủ Việt Nam cũng cần mở rộng cánh cửa và cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ có cơ hội để đóng góp ý kiến.

 

Vậy trong ngành dược ông đang theo đuổi thì đang có những vấn đề nào ông nghĩ Việt Nam cần sớm cải thiện?

 

- Hiện nay, ngành dược phẩm tại Việt Nam có rất nhiều kiểm soát và thủ tục hành chính. Một loại thuốc mới có thể sẽ cần một thời gian dài hơn 5 năm để được Chính phủ Việt Nam thông qua cho phép lưu hành so với thời gian ngắn hơn nhiều ở Mỹ và châu Âu. Sự chậm trễ này có lẽ là một lý do quan trọng mà các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dược phẩm không có nhiều động lực để “rót vốn” vào Việt Nam.

 

Một vấn đề nữa là Việt Nam có một danh sách những loại thuốc được đồng ý và danh sách này khoảng 3 năm mới được cập nhật một lần. Đây chỉ là một số ví dụ cho thấy quá trình ở Việt Nam diễn ra rất chậm và tôi nghĩ Chính phủ còn có thể làm tốt hơn nữa.

 

Một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc đầu tư rất nhiều tiền vào các đơn vị chuyên nghiên cứu về quá trình thông qua một loại thuốc nào đó để làm cho quá trình đó được nhanh chóng hơn. Nhờ thế hiện nay quá trình đó của họ đã trở nên nhanh chóng, hiệu quả hơn rất nhiều và nhờ thế thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến. Việt Nam có thể học hỏi từ cách làm đó để làm cho mọi việc trở nên nhanh hơn, dễ dàng hơn.

 

 

Ông nhận định như thế nào về tương lai của quan hệ giữa hai nước?

 

- Tôi nghĩ rằng cả hai nước đã có những nền móng cơ bản vững chắc. Bây giờ, chúng ta chỉ cần tiếp tục xây dựng mối quan hệ tốt đẹp đó. Theo tôi thấy thì tất cả những người Mỹ đến Việt Nam đều yêu thích đất nước này. Số lượng người Mỹ sinh sống và làm việc tại Việt Nam lớn hơn trước đây rất nhiều. Ngược lại thì người Việt Nam đến Hoa Kỳ học tập và làm việc cũng rất đông.

 

Người Mỹ khâm phục người Việt Nam vì họ làm việc rất chăm chỉ. Tôi cũng nhận thấy rõ điều đó ở những sinh viên Việt Nam đang học tại Hoa Kỳ. Ngược lại, người Việt Nam cũng rất thân thiện và quý mến người Mỹ. Điều đó cho thấy là trong tương lai có rất nhiều tiềm năng để xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa hai nước.

 

Vì thế nếu Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục có những quyết định đúng đắn và táo bạo hơn thì sẽ có rất nhiều cơ hội mở rộng thương mại cho cả hai bên.

 

Nói đến đây thì tôi cảm thấy rất hãnh diện vì một trong những người có mặt ở điểm khởi đầu của việc hai nước ký Hiệp định BTA 22 năm trước. (đặt tay lên lồng ngực, ánh mắt tự hào)

 

Từ thành công của Hiệp định BTA, ông có nghĩ rằng, trong tương lai Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ có một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa hai nước không?

 

- Ồ! Tôi nghĩ nếu có thêm một Hiệp định FTA giữa hai nước thì sẽ có lợi cho cả hai bên.

 

 

Vợ chồng ông Joe Damond, bà Cindy Long hội ngộ với ông Trần Đình Lương và ông Phạm Tuấn Anh tại chương trình Đối thoại đầu tuần với chủ đề "Việt Nam - Cơ hội và lối rẽ của một nền kinh tế" của Báo Đầu tư, phát sóng ngày 29/8/2022, nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2022)

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi rời công việc Chính phủ Hoa Kỳ, ông Joe Damond đã trải qua các vị trí Phó chủ tịch phụ trách Quan hệ Quốc tế của PhRMA là hiệp hội các công ty dược phẩm Hoa Kỳ, Phó chủ tịch phụ trách Quan hệ Chính phủ của hãng dược Pfizer, sau đó là Phó chủ tịch phụ trách Quan hệ Quốc tế và Phó chủ tịch phụ trách Chính sách của BIO là liên minh của các hãng dược lớn nhất của Hoa Kỳ.

 

Với tình yêu, tình bạn lâu năm, tri kỷ với đất nước Việt Nam; với kinh nghiệm làm việc chặt chẽ với Việt Nam để đưa đất nước vào nền kinh tế toàn cầu, hơn lúc nào hết ông đang nhìn thấy cơ hội to lớn và cảm thấy khát khao được góp sức xây dựng một Việt Nam hùng mạnh hơn trong lĩnh vực mà ông có chuyên môn. Mong muốn của ông là đưa được Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong ngành sinh dược học toàn cầu.

Trong 22 năm qua, ông đã tới hơn 30 quốc gia với vai trò là một người điều hành trong ngành dược phẩm và công nghệ sinh học. Ông cũng vừa tham gia Hội nghị “Toàn cầu hóa lĩnh vực dược Việt Nam” diễn ra ngày 17/8/2022 tại Hà Nội. Ông đánh giá thế nào về triển vọng phát triển của ngành sinh dược Việt Nam?

 

Tôi đặc biệt quan tâm đến Hội nghị “Toàn cầu hóa lĩnh vực dược Việt Nam” bởi nó kết hợp hai phần quan trọng trong sự nghiệp của tôi là tình yêu với đất nước Việt Nam và mong muốn để đưa Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, và chuyên môn của tôi trong lĩnh vực dược trên phạm vi toàn cầu. Bây giờ tôi đang thấy cơ hội to lớn để Việt Nam phát triển một cách sâu sắc hơn trong một ngành mà tôi có nhiều kiến thức chuyên môn nhất- ngành công nghiệp dược trên phạm vi toàn cầu.

 

Tôi nghĩ rằng, Việt Nam nên coi ngành sinh dược là một ngành kinh tế được ưu tiên. Tôi có niềm tin mạnh mẽ rằng Việt Nam có cả nhu cầu lớn và cơ hội lớn để trở thành một nước dẫn đầu thế giới trong ngành sinh dược toàn cầu.

 

Điều ông vừa nói khiến chúng tôi rất bất ngờ bởi công nghiệp sinh dược là ngành Việt Nam đi sau thế giới khá xa.

 

- Với những hiểu biết của mình, tôi tin chắc ngành sinh dược sẽ là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế hàng đầu của thế kỷ 21. Hai lý do cho việc này là tốc độ phát triển mạnh mẽ của công nghệ và nhu cầu ngày càng tăng cao của các quốc gia trên thế giới giống như Việt Nam cần chăm sóc sức khỏe nhiều hơn và tốt hơn cho người dân.

 

Hiện đang có một cuộc cách mạng công nghệ dược phẩm đang dẫn dắt chúng ta đến giai đoạn điều trị hiệu quả hơn, kể cả chữa khỏi các bệnh mà trước kia bị coi là ngoài tầm tay như ung thư hay alzheimer, và ngăn chặn thành công các nguy cơ đại dịch mới.

 

Những tiến bộ này sẽ cải thiện khả năng chăm sóc sức khỏe trên thế giới và tạo cơ hội mới hấp dẫn cho các quốc gia. Nếu cuối thế kỷ 20 đã sản sinh ra cuộc cách mạng công nghệ thì thế kỷ 21 này thế giới sẽ nói nhiều hơn về công nghệ sinh học, về các lĩnh vực công nghệ tiên tiến như gen, điều trị tế bào và chỉnh sửa gen, các lĩnh vực mà hiện nay có vẻ lạ lẫm nhưng trong vài năm tới sẽ trở nên phổ biến hơn.

 

 

Tin tốt là ngoài Hoa Kỳ thì không có quốc gia nào dẫn đầu trong ngành này, đặc biệt là ở châu Á. Vì thế lúc này không phải là quá muộn để Việt Nam có thể tham gia vào cuộc chơi này cũng như để đuổi kịp những nước khác. Trong thập kỷ tới có thể có nhiều quốc gia tạo được sức ảnh hưởng lớn trong ngành này, ở khu vực và trên toàn cầu. Việt Nam cần nhận thức rằng đây chính là thời điểm lý tưởng để tham gia vào cuộc cách mạng sinh dược toàn cầu.

 

Để hiểu rõ hơn cơ hội cho Việt Nam trong ngành sinh dược, xin ông chia sẻ ngành sinh dược toàn cầu được cơ cấu và đang phát triển như thế nào?

 

- Trước tiên chúng ta cần lưu ý là ngành sinh dược toàn cầu không được cấu trúc như các ngành công nghiệp khác. Nó là một hệ sinh thái thực sự chứ không đơn giản là một nhóm các công ty toàn cầu quy mô lớn. Chuỗi giá trị của ngành sinh dược có rất nhiều thành phần tham gia, đi từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lâm sàng và phát triển thuốc, chuyên môn, pháp lý, hay tạo ra các yếu tố đầu vào của sản xuất công nghiệp và phân phối sản phẩm.

 

Mặc dù có một số công ty tích hợp nhiều thành phần nhưng hệ sinh thái ngày càng có sự tham gia của hàng trăm, hàng nghìn các công ty lớn nhỏ cộng tác và hợp tác với nhau xuyên biên giới trong nhiều lĩnh vực.

 

Thứ hai, thực tế là ngành công nghiệp này đang có sự gia tăng thành phần của các công ty nhỏ. Hơn 70% sản phẩm sinh dược mới được FDA của Hoa Kỳ phê duyệt có xuất xứ từ các công ty nhỏ.

 

Đó là sự thay đổi lớn so với một đến hai thập kỷ trước. Phần lớn số còn lại của chuỗi cung ứng cũng ngày càng được chuyên môn hóa cao. Điều này có ý nghĩa đối với Việt Nam và cho thấy còn có nhiều cơ hội và cơ hội mới để Việt Nam xác định các lĩnh vực cụ thể vượt trội trên thị trường toàn cầu và thông qua sự cộng tác để tạo cơ hội thị trường mới cho các công ty của mình trên toàn thế giới.

 

Xin đưa ra một số ví dụ cho thấy hiện nay các đối tác toàn cầu đa dạng và năng động như thế nào trong ngành này. Một công ty sinh dược nhỏ của Mỹ có tên gọi là Novavax đã nhận được sự phê duyệt cho một loại vắc-xin Covid mới. Nhưng do họ thiếu quy mô sản xuất toàn cầu nên đã hợp tác với một công ty Hàn Quốc sản xuất vắc-xin này cho châu Á.

 

Hay SK Bioscience thực hiện nghiên cứu về các loại vắc-xin và đã hợp tác với GSK, một công ty đa quốc gia tại Anh chuyên về lĩnh vực này.

 

Hoặc một ví dụ về công ty nhỏ hơn khác của Hoa Kỳ là Alnylam có công nghệ sinh học tiên tiến và hoạt động trong lĩnh vực công nghệ RNA. Để kiểm tra nghiên cứu này trong thử nghiệm lâm sàng với các bệnh nhân, họ đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng ở Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Hồng Kông và ở châu Âu là Bulgaria. Mỗi thử nghiệm này đều cần sự chia sẻ công nghệ mới với các chuyên gia y tế địa phương và qua đó nâng cao kiến thức và kỹ năng của họ.

 

Tương tự, công ty quy mô nhỏ khác của Hoa Kỳ là Alkermes đang thực hiện thử nghiệm về ung thư và thần kinh tại Hàn Quốc, Đài Loan, Serbia, và Anh.

 

Tôi đưa ví dụ về các công ty có quy mô nhỏ hoặc vừa tại Hoa Kỳ để cho thấy sự đa dạng của các kết nối và cơ hội tuyệt vời cho hợp tác.

 

Tất nhiên là những công ty đa quốc gia lớn thực hiện nhiều hợp tác hơn, trên quy mô lớn hơn, trong nhiều lĩnh vực hơn.

 

Vì vậy, ngay cả với một quốc gia có ngành sinh dược học phát triển hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ thì vẫn có trên 50% tổng số tất cả các loại thuốc tiên tiến được phát triển toàn cầu. Và ngành này vẫn đang được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng.

 

Nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định là ngành sinh dược cần một chiến lược ưu tiên trong phát triển kinh tế. Tại châu Á, những quốc gia và vùng lãnh thổ có ưu tiên đó là Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan. Nhưng cơ hội luôn song hành với thử thách trong bối cảnh thị trường cạnh tranh.

 

 

Tuy nhiên, nếu có chiến lược đúng đắn thì tôi tin tưởng là Việt Nam có thể định vị vai trò quan trọng trong hệ sinh thái sinh dược toàn cầu.

 

Việt Nam đã chứng minh cho thế giới thấy rằng dù đi sau nhưng đất nước vẫn có thể thành công trong nhiều lĩnh vực khác trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam có một lực lượng dân số năng động, sáng tạo, có học vấn cao, cũng như đạo đức làm việc đáng kinh ngạc. Đây là những nền tảng để thành công ngay cả trong một ngành cạnh tranh và phát triển nhanh chóng như sinh dược.

 

Nhưng những yếu tố cơ bản là chưa đủ để thành công toàn cầu. Việt Nam cần chiến lược phát triển đúng đắn cho ngành công nghiệp sinh dược học.

 

Ông Joe Domand phát biểu tại Hội nghị “Toàn cầu hóa lĩnh vực dược sinh học của Việt Nam”, diễn ra ngày 17/8/2022, tại
Hà Nội.

 

Vậy chiến lược phát triển ngành công nghiệp sinh dược học toàn cầu của Việt Nam cần có những yếu tố cơ bản nào, thưa ông?

 

- Trước tiên, chiến lược cần có tiêu chí để quyết định định hướng cơ bản cho tương lai ngành sinh dược Việt Nam.

 

Ở đây có hai lựa chọn cơ bản cần được thực hiện gồm: Ngành dược định hướng chủ yếu ở nội địa hay toàn cầu và ngành có tập trung vào sản xuất thuốc chính hãng hoặc nghiên cứu và phát minh thuốc mới hay không?

 

Về định hướng, ngành sinh dược của Việt Nam cần có một trọng tâm toàn cầu. Có nghĩa là thay vì chỉ thống lĩnh thị trường trong nước, Việt Nam nên tập trung cạnh tranh toàn cầu và đầu tư cho việc tiếp thị, bán hàng cho thị trường toàn cầu với quy mô lớn hơn. Đây là cách tiếp cận bền vững hơn, có lợi ích kinh tế hơn.

 

Kể từ khi hoàn thành Hiệp định BTA với Hoa Kỳ, Việt Nam đã khẳng định năng lực cạnh tranh toàn cầu và tôi tự tin Việt Nam có thể làm được điều tương tự trong lĩnh vực này.

 

Vậy câu hỏi là Việt Nam thực sự muốn ở đâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu? Việt Nam có muốn cạnh tranh với Ấn Độ và Trung Quốc trong sản xuất thuốc generic có khối lượng cao nhưng giá trị gia tăng thấp hay không? Hay muốn đạt trình độ của hệ sinh thái sáng tạo thuốc gốc toàn cầu với giá trị gia tăng cao hơn?

 

 

Đây quả là một sự lựa chọn khó khăn. Tôi cho rằng, ở giai đoạn này, sức mạnh và lợi thế so sánh của Việt Nam chính là lĩnh vực sản xuất thuốc generic.

 

Nếu Việt Nam muốn trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình cao hay mức thu nhập cao thì cần chuyển mình trên chuỗi giá trị theo hướng đổi mới và phát minh. Vì vậy, Việt Nam cũng cần tham gia ngay vào việc sản xuất và phát triển biệt dược gốc.

 

Về chiến lược tổng thể, bài học chủ yếu học được từ các quốc gia khác là việc xây dựng chiến lược cần sự tham gia của tất cả các cơ quan Chính phủ có liên quan như: Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương…

 

Nhiều quốc gia trong khu vực đã lãng phí rất nhiều thời gian vì cuộc chiến liên bộ trong ngành này do các bộ đưa ra chính sách trái ngược nhau. Việt Nam nên rút kinh nghiệm và hình thành quy trình liên bộ để có thể tạo ra một tầm nhìn chung và một kế hoạch hành động chung.

 

Hơn 20 năm qua, ông không chỉ phát triển mạng lưới toàn cầu mạnh mẽ gồm những người bạn và đồng nghiệp mà còn thu nạp được rất nhiều bài học về cách các quốc gia có thể thành công trong lĩnh vực này. Ông có thể chia sẻ những bài học quý giá đó để Việt Nam không đi theo những vết xe đổ và học hỏi thành công của người đi trước?

 

- Một câu hỏi thật hay! Kinh nghiệm của các quốc gia châu Á khác cũng chính là điều tôi muốn chia sẻ để cung cấp những bài học có giá trị cho Việt Nam về hướng đi toàn cầu và phát triển, sáng chế thuốc.

 

Thực tế là có rất nhiều nền kinh tế then chốt của châu Á đã có những sai lầm trong nền kinh tế sinh dược toàn cầu. Nhiều người cho rằng với sự thành công trong công nghệ thông tin và khoa học thì Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ nghiễm nhiên có một số công ty sinh dược công nghệ cao thành công nhất trên thế giới. Tuy nhiên họ không làm được điều đó vì đã lựa chọn sai lầm, và họ chỉ mới bắt đầu sửa lỗi trong thời gian gần đây.

 

Đầu tiên, họ đã chọn cách sai để phát triển ra toàn cầu. Hầu hết các nước Đông Á đều áp dụng mô hình phát triển ngành sinh dược theo các mô hình mà họ đã sử dụng thành công trong các ngành như ô tô và điện tử. Đó là tạo lợi ích kinh tế cao trong thị trường nội địa và bảo hộ cho các nhà sản xuất để họ hưởng nhiều thuận lợi. Sau đó thu nhập sẽ được dùng để đầu tư vào việc đổi mới.

 

Cách tiếp cận tương tự đã được sử dụng trong ngành sản xuất thuốc generic. Các quốc gia tạo lợi thế địa phương cho các công ty sản xuất thuốc generic của họ, bao gồm ưu đãi về thuế, phí, với mong đợi rằng họ sẽ đầu tư lợi nhuận vào đổi mới và phát kiến.

 

Nhưng các công ty không bao giờ làm điều này. Lý do là việc sáng chế ra thuốc mới quá rủi ro, với tỷ lệ thất bại lên tới 90% và chi phí phát triển quá cao vào khoảng trung bình 2 tỷ USD cho mỗi loại thuốc thành công. Ngoài ra thì sự hợp tác với các đối tác địa phương cũng không được khuyến khích.

 

Nếu các công ty có thể kiếm lợi nhuận lớn tại thị trường nội địa mà không phải đối mặt với rủi ro cao của việc nghiên cứu sáng tạo và phát minh thì họ sẽ chẳng tội gì mà làm như vậy. Họ thiếu cả động lực và vốn cho phát minh.

 

Khi đang ở trong một thị trường được bảo hộ và không có đối tác toàn cầu, hầu hết các công ty của họ không thể cạnh tranh toàn cầu, ngay cả trong lĩnh vực thuốc generic. Và không ai trong số họ trở thành “nhà lãnh đạo” toàn cầu trong việc phát minh thuốc mới.

 

Tuy nhiên, Ấn Độ và gần đây là Trung Quốc đi theo hướng khác là tập trung vào sản xuất hóa dược phẩm generic trên quy mô toàn cầu. Việc này đã được chứng minh thành công ít nhiều, vì cả hai quốc gia đều có thị trường nội địa lớn.

 

Bài học cho Việt Nam là trong ngắn hạn thì tốt nhất là tập trung vào lĩnh vực sản xuất thuốc gereric. Nhưng đây là con đường có giá trị thấp và sẽ phải đối mặt với cuộc cạnh tranh từ không chỉ các quốc gia lớn hơn như Trung Quốc và Ấn Độ mà thậm chí là từ các nước có thu nhập thấp hơn.

 

 

Nhưng một lần nữa tôi tin rằng Việt Nam có thể tránh được sai lầm của những nước láng giềng. Trong trường hợp của Việt Nam, giải pháp là hợp tác với các đối tác toàn cầu, điều mà các quốc gia khác thường chưa làm trong quá khứ. Hợp tác với các công ty toàn cầu là “chìa khóa” để Việt Nam tạo “bước nhảy vọt” trong ngành sinh dược toàn cầu.

 

Hiện nay, tiếp cận hệ thống kinh tế toàn cầu trong lĩnh vực này còn khá dễ dàng cho những người chơi mới hơn là khi thị trường đã bị một số công ty dược lớn chi phối.

 

 

Vậy thưa ông, ví dụ là nếu Việt Nam đã chọn hướng đi là phát triển ngành sinh dược toàn cầu thì làm thế nào để chiến lược đó được thực hiện thành công?

 

- Như tôi đã nhấn mạnh thì mặc dù trong hệ sinh thái sinh dược toàn cầu hiện nay còn có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít chông gai để Việt Nam xác định vị trí của mình.

 

Trước tiên, Việt Nam cần hiểu biết rất kỹ về chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng thường bắt đầu đối với nhiều nước theo kênh tài chính và đầu tư, qua đó các nhà đầu tư vốn mạo hiểm và các công ty dược toàn cầu tìm kiếm đối tác mà họ có thể đầu tư vào.

 

Điều không thể chối cãi là Việt Nam sẽ có lợi ích tuyệt vời nếu thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư toàn cầu. Có nhiều dự án được xem xét trong ngành này, và nhiều nhà đầu tư trong ngành đang tìm cách đa dạng hóa đầu tư của họ vào châu Á.

 

Để Việt Nam tiếp cận được với các đối tác tiềm năng thì có một số sự kiện toàn cầu, chủ yếu dành cho việc kết nối các nhà đầu tư sinh dược toàn cầu với các công ty, mà Việt Nam có thể tham gia. Đơn cử như Hội thảo sinh học J.P Morgan, được tổ chức vào tháng 1 hàng năm tại San Francisco (Hoa Kỳ), là nơi hội tụ cộng đồng tài chính, các công ty sinh dược và các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới. Hay sự kiện khác là Hội nghị quốc tế BIO, tập hợp của các công ty sinh dược phẩm, các nhà đầu tư và các Chính phủ, diễn ra thường niên tại Hoa Kỳ vào tháng 6.

 

Ông Joe Damond phát biểu tại buổi làm việc với lãnh đạo Bộ y tế, ngày 17/8/2022.

 

Hội nghị BIO thường có khoảng hơn 20 ngàn thành viên đến từ 60 quốc gia tham gia. Họ sử dụng một phần mềm chuyên biệt để kết nối hàng ngàn công ty tham gia bằng cách giúp các công ty tìm kiếm và gặp gỡ các đối tác tiềm năng với các đặc tính cụ thể tùy chọn.

 

Hội nghị BIO có thể sắp xếp lên đến trên 40.000 cuộc họp tay đôi trong khoảng 3 ngày. Các sự kiện này quy mô rất đồ sộ và sẽ cần thời gian để Việt Nam chuẩn bị nếu Việt Nam muốn tham gia.

 

Hội nghị BIO năm tới sẽ diễn ra ở Boston vào tháng 6 năm 2023. Tôi hy vọng sẽ có một đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự. Ở một hội nghị lớn như vậy rất cần thiết có một quan chức cấp Bộ trưởng tham gia để có thể đưa ra những thông điệp tinh tế, uy tín, có thể thu hút, hấp dẫn được các công ty, nhà đầu tư quốc tế, cũng như khẳng định là Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và sẵn sàng tham gia tích cực.

 

Điều này đòi hỏi vai trò quan trọng của Chính phủ và các công ty. Việt Nam nên khảo sát các Hội nghị quốc tế quan trọng như tôi đã đề xuất và bắt đầu tham gia các sự kiện đó. Thành công sẽ không đến ngay ngày hôm sau nên cần bắt đầu thật sớm.

 

Vậy để có thể sớm sẵn sàng tham gia vào chuỗi cung ứng sinh dược toàn cầu thì Việt Nam có thể thực hiện ngay những công việc cụ thể nào?

 

- Có 4 bước thực tiễn đòi hỏi Việt Nam thực hiện.

 

Thứ nhất, ngành sinh dược Việt Nam nên làm việc với các công ty đa quốc gia trong năm tới để thực hiện khảo sát các điểm mạnh và điểm yếu của ngành. Điều này có thể được thực hiện qua điều nghiên hoặc qua các tham luận tại một hội thảo nơi chúng ta lắng nghe quan điểm từ các bên hữu quan đa dạng đến từ cả trong và ngoài Việt Nam để có thể có được một bức tranh toàn cảnh chính xác.  

 

Thứ hai, Việt Nam nên tổ chức một số sự kiện trong nước với các chuyên gia để có thể đánh giá chi tiết hơn về hệ thống sinh thái sinh dược toàn cầu. Điều này không phải quá tốn kém và là một trong những việc mà tôi có thể giúp được.

 

Thứ ba, Việt Nam cần một kế hoạch kết nối toàn cầu. Có nhiều hội nghị và hội nghị quốc tế, một số có tính khu vực như các hội thảo ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan; một số có khác có tính toàn cầu như BIO và J.P Morgan ở Hoa Kỳ như tôi chia sẻ.

 

 

Mục tiêu của kết nối là để học tập và tìm đối tác. Việt Nam và các công ty Việt Nam không thể đi một mình đến thành công trong thị trường toàn cầu. Đơn cử, Công ty Samsung (Hàn Quốc) thành công bởi họ không ngừng tìm kiếm đối tác giúp họ thành công trên các thị trường toàn cầu. Có rất nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc và Nhật Bản cũng đang làm như vậy.

 

Thứ tư, Việt Nam nên đầu tư thêm cho các chương trình hợp tác toàn cầu trong nghiên cứu khoa học và hợp tác y tế. Phần này nên tập trung phát triển các trung tâm tri thức lâm sàng cho các công ty đang mong muốn tiến hành thử nghiệm lâm sàng.

 

Để thành công trên các thị trường toàn cầu, Việt Nam cần nhanh chóng đồng bộ hóa hệ thống quản lý dược của mình với các tiêu chuẩn toàn cầu. Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc đều làm điều đó để hệ thống quy định của họ phù hợp với các chuẩn mực toàn cầu.

 

Lý do cần làm điều này vì sao? Đầu tiên, các nhà sản xuất toàn cầu cần biết rằng các tiêu chuẩn tại Việt Nam phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn và chất lượng để đầu tư. Họ cần biết các tiêu chuẩn này sẽ được tuân thủ.

 

Mặt khác, những người muốn thực hiện các thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam cần biết rằng các thử nghiệm đó là hợp pháp và được thực hiện theo các tiêu chuẩn có thể chấp nhận được đối với các nhà quản lý quốc tế như FDA Hoa Kỳ. Đặc biệt là các thủ tục thử nghiệm sẽ được phê duyệt dựa trên cơ sở khoa học.

 

Người ta sẽ không đưa thuốc mới vào Việt Nam trừ khi hệ thống quản lý dược thật minh bạch, hiệu quả và dựa trên cơ sở khoa học nếu không thì bên chịu thiệt hại sẽ chính là các bệnh nhân Việt Nam và các công ty Việt Nam có nhu cầu cộng tác toàn cầu. Các công ty toàn cầu có thể sẽ lưỡng lự đầu tư vào quá trình Nghiên cứu và Phát triển (R&D) và hình thành các quan hệ cộng tác với các nhà nghiên cứu Việt Nam nếu việc phát triển và giới thiệu thuốc tại Việt Nam không tuân theo các tiêu chuẩn toàn cầu.

 

Các quốc gia thường không coi quy định về quản lý thuốc của họ là “cơ sở hạ tầng”, nhưng trong ngành này thì những quy định này chính là đường cao tốc cho phép giao thông thuốc toàn cầu lưu thông. Đầu tư vào chính cơ sở hạ tầng này như nhiều kinh nghiệm đã cho thấy có thể tạo ra ra kết quả cuối cùng tuyệt vời hơn là trợ cấp trực tiếp hay trợ giá cho các công ty cụ thể.

 

Với tình yêu Việt Nam, ông mong muốn ngành công nghiệp sinh dược tại đất “nước hình chữ S” sẽ phát triển ra sao trong tương lai, thưa ông?

 

- Có một con đường tiến lên phía trước cho Việt Nam trong ngành sinh dược toàn cầu. Nếu muốn phát triển theo định hướng toàn cầu, để nâng cao vị thế trên chuỗi cung ứng thì Việt Nam cần có một chiến lược, kế hoạch toàn diện cùng sự chung tay của tất cả các cơ quan chủ chốt của Chính phủ, cũng như các công ty địa phương, công ty toàn cầu và các viện nghiên cứu.

 

Ban đầu điều này sẽ đòi hỏi phải có một số nghiên cứu và giáo dục sâu hơn ở Việt Nam để Việt Nam hiểu rõ hơn các điểm mạnh và điểm yếu của mình trong hệ sinh thái toàn cầu và để xác định các lĩnh vực tốt nhất để tham gia.

 

Việt Nam cần phát triển một tầm nhìn rõ ràng và qua đó xác định được những cải thiện nào về đổi mới ngành dược là phù hợp nhất. Đồng thời, Việt Nam cần tìm kiếm sự cộng tác giữa các nhà nghiên cứu và phát triển cơ sở hạ tầng của mình cho thử nghiệm lâm sàng.

 

Cộng tác toàn cầu sẽ là “chìa khóa”, Việt Nam cần bắt đầu những nỗ lực của mình trong mạng lưới toàn cầu càng sớm càng tốt, vì phần còn lại của thế giới không đứng yên.

 

 

Điều này có thể là một thử thách rất lớn nhưng trong thế kỷ 21, ngành sinh dược sẽ có vai trò và vị thế rất quan trọng mà Việt Nam không thể bỏ qua.

 

Sự thành công của Việt Nam vừa qua trên thị trường toàn cầu được thực hiện bởi trí tuệ, sự sáng tạo và tinh thần đổi mới đáng kể của người dân Việt Nam. Tất cả đã thuyết phục tôi rằng Việt Nam có thể thành công.

 

Tôi khát khao và rất vui nếu được góp sức cho ngành sinh dược học Việt Nam với tư cách như một người bạn lâu năm, tri kỷ của Việt Nam hay như một người con xa xứ lâu ngày trở về.

 

Ông yêu thích món ăn nào của Việt Nam?

 

- Tôi đặc biệt rất thích món chả cá Lã Vọng. Đó không hẳn là một quán sang trọng mà tôi từng thưởng thức món này ở Hà Nội nhưng hàng chục năm qua hương vị món ăn vẫn được giữ nguyên vẹn, không chút thay đổi.

 

Trong vai một du khách Mỹ, theo ông, ngành kinh tế xanh Việt Nam cần làm gì để hấp dẫn du khách quốc tế hơn nữa?

 

- Hiện nay, hạ tầng du lịch của Việt Nam đã rất khác. 27 năm trước, Việt Nam không có một khách sạn nào theo tiêu chuẩn quốc tế. Tôi đi vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) từ Hà Nội thì mất tới 4 đến 5 giờ vì đường rất xấu.

 

Thế nhưng, bây giờ thời gian di chuyển từ Hà Nội đến vịnh Hạ Long đã nhanh hơn rất nhiều. Có rất nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng cao cấp, nhà hàng sang trọng, quán cà phê,… được đầu tư xây dựng khắp dọc dài đất nước Việt Nam, đáp ứng mọi nhu cầu, từ người già đến trẻ nhỏ. Người Hoa Kỳ rất thích những điểm đến như vậy.

 

Với cá nhân tôi thì điểm duy nhất Việt Nam cần tiếp tục phải cải thiện là cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông để người nước ngoài đến đây có thể nhìn được nhiều phần của “đất nước hình chữ S”.

 

Hiện nay, du khách nước ngoài có thể tiếp cận nhanh chóng với những thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng. Nhưng có rất nhiều địa điểm khác tuyệt đẹp của Việt Nam chưa được người nước ngoài biết đến. Cho nên, cần phải phát triển du lịch một cách toàn diện, đặc biệt là về hạ tầng.

 

Ông Joe Damond tại Hội nghị “Toàn cầu hóa lĩnh vực dược sinh học của Việt Nam”, diễn ra ngày 17/8/2022, tại
Hà Nội.

 

Được biết, nhiều năm qua, ông cùng vợ là bà Cindy Long, Cục trưởng Cục Dinh Dưỡng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã dành một khoản ngân sách làm từ thiện giúp đỡ cho trẻ em Việt Nam?

 

- Chúng tôi yêu Việt Nam và coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình. Chúng tôi có một khoản ngân sách nhỏ đóng góp cho các hoạt động thiện nguyện của tổ chức phi chính phủ tên là International Center.

 

Tổ chức này cũng nhận được ngân sách từ các cơ quan lớn như Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) để thực hiện các chương trình giúp đỡ người tàn tật chủ yếu tại những vùng nông thôn nghèo ở miền trung Việt Nam.

 

Khoản ngân sách khiêm tốn của chúng tôi giúp họ xây nhà cho những người nghèo, người tàn tật hoặc mua xe đẩy, xe lăn để họ có thể di chuyển tốt hơn. Hoặc những dự án, hoạt động ý nghĩa hay một số khoản chi International Center không có nguồn quỹ hoặc không được chi tiêu từ ngân sách của USAID chẳng hạn thì khoản đóng góp của vợ chồng tôi sẽ bù vào đó.

 

Xin cảm ơn tình yêu của ông dành cho Việt Nam cùng những câu chuyện rất thú vị và ý nghĩa!

 

Ông Joe Damond chụp hình lưu niệm cùng các đại biểu, doanh nghiệp ngành dược tại Hội nghị
“Toàn cầu hóa lĩnh vực dược sinh học của Việt Nam”, diễn ra ngày 17/8/2022, tại
Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

Hồ Hạ - Linh Lê - Chí Cường 03/09/2022 08:22
Back To Top