Thứ Sáu, Ngày 30 tháng 01 năm 2026,
Tin mới y tế ngày 30/1: Bệnh thêm nặng vì tự ý điều trị tại nhà
D.Ngân - 30/01/2026 10:10
 
Viêm phế quản phổi ở trẻ nhỏ nếu chậm xử trí có thể dẫn đến suy hô hấp cấp, tổn thương phổi hoặc nhiễm trùng huyết, đe dọa tính mạng.

Bệnh thêm nặng vì tự ý điều trị tại nhà

Sau hai tuần điều trị tại nhà nhưng không cải thiện, bé gái 28 tháng tuổi được gia đình đưa viện trong tình trạng ho nhiều, tai rỉ dịch và phát ban toàn thân. Các bác sỹ xác định trẻ bị viêm phế quản phổi cấp bội nhiễm, kèm viêm tai giữa và mày đay, buộc phải nhập viện để kiểm soát biến chứng hô hấp.

Theo người nhà, bé Hồng bắt đầu xuất hiện các triệu chứng sổ mũi, ho khan và thường xuyên quấy khóc vì đau nhức tai. Tai trẻ rỉ dịch hai bên. Gia đình đưa bé đến khám tại một phòng khám gần nhà và được kê đơn kháng sinh điều trị tại nhà. Tuy nhiên, sau khoảng hai tuần, các triệu chứng không thuyên giảm mà ngày càng nặng hơn.

Bé ho nhiều, xuất hiện đờm đặc, nôn sau ho, tai tiếp tục rỉ dịch, đồng thời nổi ban toàn thân gây ngứa, khiến gia đình lo lắng đưa trẻ đến bệnh viện.

Ảnh minh họa.

Tại viện, qua thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng, bác sỹ Lưu Hoàng Ái Phương, Khoa Nhi cho biết, tình trạng của bé khá phức tạp.

Kết quả X-quang ngực ghi nhận hình ảnh mờ rốn phổi, phổi ran ẩm hai bên; niêm mạc mũi nhiều dịch nhầy màu vàng nhạt; tai trái viêm, có dịch mủ. Trên da xuất hiện ban dạng sẩn lan tỏa toàn thân. Trẻ được chẩn đoán viêm phế quản phổi cấp, viêm tai giữa trái và mày đay.

Đáng chú ý, bé Hồng có tiền căn dị ứng hải sản, đạm sữa bò và đã sử dụng nhiều loại kháng sinh trước đó. Theo bác sỹ Phương, đây là yếu tố khiến việc điều trị trở nên khó khăn hơn.

“Trường hợp này vừa có nhiễm trùng đường hô hấp dưới, vừa có viêm tai giữa, lại kèm cơ địa dị ứng. Việc lựa chọn thuốc cần được cân nhắc kỹ để đảm bảo hiệu quả điều trị, đồng thời hạn chế nguy cơ phản ứng dị ứng và kháng kháng sinh”, bác sỹ nói.

Bé được chỉ định điều trị nội trú bằng kháng sinh đường tiêm, kết hợp thuốc kháng viêm và kháng histamin để kiểm soát mày đay, giảm ngứa.

Sau hai ngày điều trị, tình trạng ban da cải thiện rõ rệt, các triệu chứng viêm phế quản phổi và viêm tai được kiểm soát. Trẻ được chuyển sang kháng sinh đường uống. Đến ngày thứ năm, bé ổn định hoàn toàn, không còn ho đờm, tai giảm tiết dịch, ăn uống và sinh hoạt bình thường, được xuất viện.

Theo BS.CKI Lưu Hoàng Ái Phương, trẻ dưới 5 tuổi có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, rất dễ mắc các bệnh hô hấp và bệnh có thể tiến triển nhanh, nặng nếu không được điều trị đúng cách. Viêm phế quản phổi ở trẻ nhỏ nếu chậm xử trí có thể dẫn đến suy hô hấp cấp, tổn thương phổi hoặc nhiễm trùng huyết, đe dọa tính mạng.

Viêm tai giữa ở trẻ thường là biến chứng của nhiễm trùng đường hô hấp trên khi vi khuẩn hoặc virus lan từ mũi họng qua vòi nhĩ vào tai giữa. Ngoài ra, việc vệ sinh tai không đúng cách cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm tai. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây mất thính lực tạm thời hoặc vĩnh viễn, thủng màng nhĩ, thậm chí viêm màng não.

Các bác sỹ khuyến cáo, khi trẻ có các dấu hiệu bất thường như ho kéo dài, ho có đờm đặc, sốt cao không đáp ứng với thuốc hạ sốt, khó thở, thở nhanh, bỏ bú, ăn kém, đau nhức tai hoặc tai rỉ dịch, phụ huynh cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị đúng cách.

“Tuyệt đối không tự ý cho trẻ sử dụng kháng sinh khi chưa có chỉ định của bác sỹ. Việc dùng kháng sinh không đúng cách có thể dẫn đến kháng thuốc, khiến bệnh kéo dài hoặc diễn biến phức tạp hơn”, bác sỹ Phương nhấn mạnh.

Để phòng ngừa các bệnh hô hấp và viêm tai giữa ở trẻ, phụ huynh cần cho trẻ tiêm phòng đầy đủ vắc-xin giữ vệ sinh mũi họng sạch sẽ, hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người đang mắc bệnh hô hấp, khói bụi và đặc biệt là khói thuốc lá. Với trẻ có tiền sử dị ứng, gia đình cần cung cấp đầy đủ thông tin cho bác sỹ về các loại thực phẩm hoặc thuốc từng gây dị ứng để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị an toàn.

Mảng trắng trong miệng kéo dài, người đàn ông phát hiện nhiễm HIV

Ban đầu chỉ nghĩ là viêm họng, nhiệt miệng thông thường, Hạo tự mua thuốc điều trị tại nhà. Tuy nhiên, sau nhiều ngày không thuyên giảm, các mảng trắng trong khoang miệng ngày càng lan rộng, rửa bằng nước muối sinh lý không sạch, kèm rối loạn vị giác, người bệnh buộc phải đến viện thăm khám.

ThS.BS.CKII Phạm Thái Duy, chuyên khoa Tai Mũi Họng cho biết, qua nội soi ghi nhận nhiều mảng trắng bám chặt ở niêm mạc miệng, vòm họng và lưỡi, không bong khi rửa nước. Khai thác bệnh sử cho thấy các tổn thương tiến triển nhanh, ban đầu chỉ vài đốm nhỏ sau đó lan rộng khắp khoang miệng.

Bác sỹ chẩn đoán người bệnh bị nấm họng, tuy nhiên đồng thời đặt vấn đề cần đánh giá tình trạng suy giảm miễn dịch. Theo bác sỹ, nấm họng thông thường thường số lượng ít, đáp ứng tốt với điều trị và hiếm khi lan rộng. Trong khi đó, người bệnh còn trẻ, không mắc đái tháo đường, không sử dụng corticoid kéo dài, không xạ trị hay hóa trị nhưng tổn thương nấm lại nhiều, lan nhanh và kém đáp ứng điều trị.

Trước những dấu hiệu bất thường, bác sỹ giải thích và chỉ định soi tươi tìm nấm, đồng thời thực hiện xét nghiệm sàng lọc HIV. Kết quả ban đầu ghi nhận người bệnh có kháng thể kháng HIV, nhiều sợi nấm và bào tử. Tuy nhiên, bác sỹ cho biết xét nghiệm này chưa đủ để khẳng định chẩn đoán, người bệnh tiếp tục được hướng dẫn làm xét nghiệm chuyên sâu tại cơ sở chuyên khoa.

Trong thời gian chờ kết quả, người bệnh được điều trị kháng nấm nhằm kiểm soát triệu chứng. Sau một tuần, kết quả xét nghiệm khẳng định người bệnh dương tính HIV. Bác sỹ tiếp tục chỉ định điều trị nấm họng tại chỗ, đồng thời chuyển người bệnh sang chuyên khoa Truyền nhiễm để điều trị HIV sớm, kiểm soát virus và các bệnh đồng mắc.

Theo ThS.BS.CKII Phạm Thái Duy, nấm họng, miệng thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch như người cao tuổi nhiều bệnh nền, người sử dụng thuốc xịt họng chứa corticoid kéo dài hoặc người nhiễm HIV/AIDS.

Tuy nhiên, bệnh cũng có thể xuất hiện ở người khỏe mạnh. Do đó, khi gặp những trường hợp nấm lan rộng, tái phát, kém đáp ứng điều trị, bác sỹ cần thăm khám kỹ, khai thác bệnh sử đầy đủ và chỉ định xét nghiệm phù hợp để tránh bỏ sót bệnh lý nền nguy hiểm.

HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người, phá hủy tế bào bạch cầu CD4, hàng rào bảo vệ quan trọng của cơ thể, khiến người bệnh dễ mắc các nhiễm trùng cơ hội. Nấm Candida vốn tồn tại sẵn trong khoang miệng và đường tiêu hóa, nhưng ở người nhiễm HIV, sự suy giảm miễn dịch khiến nấm phát triển quá mức, gây tổn thương niêm mạc họng.

Theo Thư viện Y khoa Mỹ, nhiễm nấm Candida miệng là một trong bảy dấu hiệu điển hình được quốc tế công nhận liên quan đến nhiễm HIV/AIDS. Khi không được điều trị sớm và kiểm soát tốt, nấm có thể lan xuống thanh quản, thực quản, phế quản, phổi hoặc não, đe dọa tính mạng.

Các bác sỹ nhấn mạnh, người nhiễm HIV cần điều trị thuốc kháng virus (ARV) lâu dài để kiểm soát virus, phục hồi miễn dịch và phòng ngừa các nhiễm trùng cơ hội. HIV lây truyền qua quan hệ tình dục không an toàn, tiếp xúc với máu hoặc chế phẩm máu nhiễm virus và từ mẹ sang con trong thai kỳ, khi sinh hoặc cho con bú.

Bác sỹ khuyến cáo, khi xuất hiện các dấu hiệu như đau rát họng kéo dài, nuốt đau, mảng trắng hoặc giả mạc bám chặt ở họng, lưỡi, amidan khó bong, khàn tiếng, khô miệng, thay đổi vị giác, tái phát nhiều lần hoặc không đáp ứng điều trị thông thường, người bệnh cần đi khám chuyên khoa Tai Mũi Họng để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Để phòng ngừa HIV, người dân cần quan hệ tình dục an toàn, không dùng chung kim tiêm, vật sắc nhọn, xét nghiệm HIV định kỳ khi có nguy cơ. Phụ nữ mang thai cần xét nghiệm sớm để được tư vấn và điều trị kịp thời, giảm nguy cơ lây truyền cho con.

Hẹp khít động mạch cảnh sau 40 năm hút thuốc lá

Sau gần 40 năm hút thuốc lá, ông Văn (63 tuổi) thường xuyên xuất hiện tình trạng chóng mặt, kèm cảm giác nặng ngực khi gắng sức. Khi đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh thăm khám, các bác sỹ phát hiện người bệnh bị hẹp nặng động mạch cảnh. Đây là nguyên nhân tiềm ẩn nguy cơ đột quỵ cao, buộc phải can thiệp phẫu thuật để bảo toàn dòng máu nuôi não.

Theo BS.CKI Bùi Châu Hiển Đăng, chuyên khoa tim mạch, bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu và hút thuốc lá kéo dài.

Kết quả thăm dò cho thấy ông Văn bị hẹp nặng động mạch cảnh trái, mảng xơ vữa hỗn hợp rải rác trong lòng các động mạch cảnh, kèm ổ loét xơ vữa xuyên thành tại động mạch dưới đòn trái. Những tổn thương này làm giảm đáng kể lượng máu lên não, khiến người bệnh chóng mặt, tức ngực khi đi bộ khoảng 200 m hoặc leo cầu thang.

Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến cơn thiếu máu não thoáng qua, mù thoáng qua, suy giảm nhận thức, nhồi máu não hoặc đột quỵ thiếu máu não, thậm chí đe dọa tính mạng. Do mảng xơ vữa phức tạp kèm ổ loét, sau hội chẩn, ê-kíp Trung tâm Tim mạch xác định phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh là phương án tối ưu.

Trước phẫu thuật, bệnh nhân được điều trị nội khoa bằng thuốc kháng kết tập tiểu cầu, đồng thời kiểm soát huyết áp và rối loạn chuyển hóa lipid nhằm giảm nguy cơ biến chứng trong và sau mổ.

Ths.Nguyễn Hồng Vinh, Khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch cho biết, trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp bóc tách các lớp mô để tiếp cận hệ động mạch cảnh, ghi nhận xơ vữa nhiều, tổn thương nặng nhất nằm ở đoạn chia về phía động mạch cảnh trong, nhánh chính đưa máu trực tiếp lên não.

Trong ca mổ, các bác sỹ kẹp kiểm soát cả ba nhánh động mạch cảnh theo quy trình tiêu chuẩn, kết hợp theo dõi liên tục bằng thiết bị đo độ bão hòa oxy mô não (NIRS) để đánh giá tình trạng tưới máu não thực tế và kịp thời hiệu chỉnh khi cần.

Thành trước động mạch được mở dọc tại vị trí hẹp, mảng xơ vữa cứng được bóc tách và loại bỏ hoàn toàn. Sau đó, ê-kíp sử dụng miếng vá sinh học từ màng ngoài tim giúp mở rộng lòng mạch, duy trì dòng máu lên não ổn định và giảm nguy cơ tái hẹp.

Suốt quá trình phẫu thuật, các chỉ số huyết áp và oxy não được kiểm soát chặt chẽ, bảo vệ an toàn cho não bộ. Sau mổ, vết mổ vùng cổ khô, liền tốt, các triệu chứng cải thiện rõ rệt. Ông Văn được xuất viện sau 5 ngày, tiếp tục điều trị nội khoa và tái khám định kỳ.

Theo các bác sỹ, hẹp động mạch cảnh thường xảy ra do mảng xơ vữa hình thành từ chất béo và cholesterol, là nguyên nhân của khoảng 10-20% các ca đột quỵ thiếu máu não. Bệnh thường gặp ở người trên 65 tuổi hoặc người có bệnh nền tim mạch. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, béo phì và tiền sử đột quỵ.

Đáng lo ngại, bệnh thường diễn tiến âm thầm, chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện biến cố thần kinh như thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ. Những dấu hiệu cảnh báo có thể gồm yếu liệt nửa người, méo miệng, khó nói, nói ngọng, mất thị lực thoáng qua, đau đầu, chóng mặt hoặc ngất xỉu.

Bác sỹ Nguyễn Hồng Vinh khuyến nghị, người có yếu tố nguy cơ nên khám tim mạch định kỳ. Siêu âm Doppler động mạch cảnh là phương pháp sàng lọc không xâm lấn, giúp đánh giá dòng máu và phát hiện sớm tình trạng hẹp hoặc tắc nghẽn. Tùy từng trường hợp, bác sỹ có thể chỉ định thêm chụp cộng hưởng từ mạch máu, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp động mạch cảnh để xác định chính xác mức độ tổn thương.

Mục tiêu điều trị bệnh động mạch cảnh là phòng ngừa đột quỵ. Tùy mức độ hẹp, người bệnh có thể được điều trị nội khoa kết hợp thay đổi lối sống, đặt stent hoặc phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh.

Để làm chậm tiến triển bệnh và giảm nguy cơ biến chứng, các bác sỹ khuyến cáo mỗi người cần duy trì chế độ ăn lành mạnh, tăng cường rau xanh và trái cây, hạn chế muối và chất béo có hại, tập thể dục đều đặn, kiểm soát tốt bệnh nền và đặc biệt tuyệt đối không hút thuốc lá bởi đây là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây xơ vữa mạch máu và đột quỵ.

Thời tiết giao mùa, bệnh hô hấp gia tăng mạnh, cảnh báo không tự ý sử dụng Tamiflu
Không khí lạnh đến sớm cùng thời tiết hanh khô đang tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh hô hấp bùng phát, đặc biệt là cúm A.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư