Đặt mua báo in| Ngày 28 tháng 11 năm 2020, 09:25:39
Kiên Giang quyết duy trì tốc độ, giữ vững vị thế tỉnh có quy mô kinh tế khá của cả nước
Huy Tân - 15/10/2020 17:40
 
Trong giai đoạn 2016-2020, Kiên Giang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và quy mô kinh tế ở mức khá trong cả nước. Đến nay, tỉnh đứng thứ 2 khu vực ĐBSCL về thu ngân sách.

Trong giai đoạn  2016 - 2020, tỉnh Kiên Giang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định và quy mô kinh tế ở mức khá trong cả nước, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, khai thác tốt hơn các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và huy động được nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đến nay, Kiên Giang đứng thứ 2 khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về thu ngân sách.

Rạch Giá, một thành phố biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.
Rạch Giá, một thành phố biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long.

Tạo ra nhiều “mũi giáp công”

“Tăng trưởng toàn diện và không ngừng”. Đó là một trong những cảm nhận rất rõ nét về Kiên Giang trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt là giai đoạn 2016 - 2020. Với tư duy và tầm nhìn đổi mới, dám nghĩ dám làm, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Kiên Giang đã đưa vùng đất được ví như một Việt Nam thu nhỏ vươn lên mạnh mẽ, trở thành “điểm sáng” trong 4 tỉnh kinh tế trọng điểm của khu vực ĐBSCL.

Với trục tư duy xuyên suốt là phát triển bền vững, Kiên Giang đã thực hiện cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thủy sản từ 40,39% xuống còn 31,54%; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng từ 18,11% tăng lên 20,06%; dịch vụ từ 41,5% tăng lên 48,4%. Đến nay, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X đã đề ra là phấn đấu đến năm 2020, Kiên Giang trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ, du lịch, công nghiệp xây dựng và nông nghiệp chất lượng cao; là trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực và quốc tế, một trong những cực tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL với hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giảm nghèo bền vững... đã cơ bản hoàn thành.

Các thành phần kinh tế tiếp tục được tạo điều kiện phát triển. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện tích cực. Phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp khá sôi động. Doanh nghiệp nhà nước từng bước được sắp xếp, tổ chức lại có hiệu quả hơn. Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, số doanh nghiệp thành lập mới tăng khá cao và đến nay có gần 2.000 doanh nghiệp tư nhân, là động lực quan trọng của nền kinh tế. Kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá và đa dạng các hình thức liên kết giữa hợp tác xã với các doanh nghiệp theo chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến, đến tiêu thụ (toàn tỉnh có 430 hợp tác xã, tăng 208 hợp tác xã so với năm 2015).

Lãnh đạo tỉnh Kiên Giang rất quyết liệt trong việc chỉ đạo rà soát, tái cấu trúc đơn vị hành chánh, cắt giảm các khâu trung gian, đơn giản hóa, công khai, minh bạch thủ tục hành chính, giảm 40 - 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với quy định. Hệ thống trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh đã đi vào hoạt động, tiếp tục xây dựng trung tâm hành chính công cấp huyện hoạt động theo nguyên tắc 5 tại chỗ: “tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, đóng dấu và trả kết quả”. Hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục được đổi mới, tổ chức bộ máy được kiện toàn tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả...

Tập trung các mục tiêu đột phá

Thực hiện một trong các nhiệm vụ chiến lược mang tính đột phá ở Kiên Giang là đẩy mạnh huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, giảm đầu tư dàn trải, tập trung cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 225.681 tỷ đồng, gấp 1,44 lần so với đầu nhiệm kỳ, chiếm 76,3% GRDP toàn tỉnh và tăng 53,17% so với giai đoạn 2011 - 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,19%.

Thực hiện 3 khâu đột phá, Kiên Giang ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực hạ tầng giao thông, bảo trì và nâng cấp các đường chính và một số tỉnh lộ quan trọng; hoàn chỉnh hệ thống bến xe, đổi mới phương tiện, nâng cao năng lực vận tải; đầu tư một số công trình trọng điểm, có tính đột phá như tuyến cao tốc Lộ Tẻ - Rạch Sỏi, đường ven biển Rạch Giá - Hòn Đất, Rạch Giá - Châu Thành, Dương Đông - Cửa Cạn - Gành Dầu, đường trục Nam - Bắc đảo Phú Quốc, đường tỉnh 963B (Bến Nhứt - Giồng Riềng), cảng hành khách Rạch Giá, cảng Bãi Vòng, cảng hành khách quốc tế Phú Quốc, mở rộng nhà ga Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc. Ưu tiên đầu tư xây dựng, hoàn thành cơ bản hệ thống thủy lợi, cống, đập, đê sông, đê biển, điện phục vụ sản xuất, nhất là ở những vùng chuyên canh lúa và nuôi trồng thủy sản tập trung; đã hoàn thành đưa vào sử dụng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Xẻo Nhàu, nâng cấp cảng cá An Thới...

Bên cạnh đó, Kiên Giang chú trọng các giải pháp đồng bộ, để tạo nhiều “mũi giáp công” như đầu tư hạ tầng cung cấp điện, đầu tư hệ thống điện phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tập trung; đầu tư cấp điện cho một số xã đảo gần bờ của huyện Kiên Hải, Kiên Lương, Phú Quốc, TP. Hà Tiên.

Về hạ tầng thủy lợi, có nhiều cố gắng trong đầu tư hệ thống kênh, cống, đêm cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và ứng phó với xâm nhập mặn, sạt lở; tập trung đầu tư hệ thống thủy lợi thoát lũ, dẫn ngọt vùng Tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu, đáp ứng tưới tiêu, ổn định cho phát triển sản xuất nông nghiệp; đầu tư đê sông và cống Cái Bé, Cái Lớn, cống Kênh Cụt, Kênh Nhánh.

Riêng về hạ tầng y tế, hoàn thành việc xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện chuyên khoa đưa vào hoạt động. Hạ tầng đô thị được quan tâm đầu tư, nhất là các đô thị lớn như Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc.

Nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững, Kiên Giang luôn coi trọng quản lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng, trữ lượng các nguồn tài nguyên. Kiểm soát chặt chẽ hơn các hoạt động khai thác tài nguyên; kiểm tra, giám sát về môi trường. Thường xuyên rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, phát triển kinh tế - xã hội, hạ tầng các đô thị ven biển phù hợp với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Chủ động triển khai nhiều giải pháp phòng, chống lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn...

Đến nay, cơ bản bảo đảm cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường cho người dân, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 92%, chất thải rắn y tế đạt trên 95%.

Những “trái ngọt” của nhiệm kỳ bội thu

Tiếp tục phát triển ổn định, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Lĩnh vực nông - lâm - thủy sản tăng trưởng bình quân 2,5%/năm. Sản lượng lương thực năm 2020 đạt 4,3 triệu tấn, lúa chất lượng cao chiếm 72%.

Trong sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở quy hoạch, đã tập trung chỉ đạo tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ; chú trọng nhiều hơn vào sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả kinh tế cao, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích, từ 78,22 triệu đồng/ha/năm tăng lên 100 triệu đồng/ha/năm...

Việc thực hiện linh hoạt, có hiệu quả các chiến lược kinh tế và xã hội đã đem đến những “trái ngọt” đúng như kỳ vọng, sự mong mỏi của người dân và chính quyền tỉnh Kiên Giang. Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 7,22%/năm. Quy mô nền kinh tế tăng mạnh (năm 2015 đạt 47.076 tỷ đồng, năm 2020 đạt 71.755 tỷ đồng), thu nhập bình quân đầu người tăng từ 1.630 USD năm 2015, lên 2.458 USD năm 2020 (gấp 1,66 lần so với năm 2015). Tổng thu ngân sách đạt 49.807 tỷ đồng, tăng 24,3% so đầu nhiệm kỳ; riêng năm 2020 đạt 11.540 tỷ đồng, gấp 2,13 lần so với năm 2015 (vượt Nghị quyết). Chi ngân sách được bảo đảm, đáp ứng yêu cầu hoạt động, tập trung chi đầu tư phát triển.

Phát triển nuôi trồng thủy sản đa dạng theo quy hoạch, đã hình thành một số vùng nuôi tôm công nghiệp và nuôi một số loại thủy sản mang lại hiệu quả; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 755.000 tấn (đạt 99,93% so với Nghị quyết). Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường biển đạt kết quả tích cực, tổ chức lại việc khai thác hải sản theo hướng giảm dần tàu thuyền có công suất nhỏ khai thác ven bờ, phát triển tàu có công suất lớn, đánh bắt xa bờ. Tập trung thực hiện tốt Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đã công nhận 79/117 xã đạt tiêu chí nông thôn mới và 2 huyện đạt chuẩn nông thôn mới, vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra.

Công nghiệp - xây dựng tăng trưởng bình quân 8,2%/năm, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 51.697 tỷ đồng. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp, trong khi công nghiệp chế biến nông thủy sản, công nghiệp chế tạo, công nghiệp đóng, sửa chữa tàu tiếp tục là ngành công nghiệp chủ đạo và là động lực tăng trưởng toàn ngành công nghiệp. Tiếp tục tạo điều kiện phát triển các nhà máy chế biến thủy sản gắn với vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực công nghiệp chế biến. Duy trì phát triển ổn định công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp. Các khu, và cụm công nghiệp của tỉnh đã đóng góp vào ngân sách 3.117 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 9.800 lao động.

Tập trung đầu tư mạng lưới cấp điện vùng lõm cho các huyện; cải tạo, nâng cấp mạng lưới điện theo quy hoạch. Đã đưa điện lưới quốc gia đến 6/9 xã đảo; đối với 3 xã đảo còn lại (An Sơn, Nam Du, Thổ Châu) chưa có điện lưới quốc gia, đã được tăng giờ phát điện lên 24/24 giờ, nâng tỷ lệ hộ được sử dụng điện đạt 99,5% (vượt Nghị quyết Đại hội). Mạng lưới đô thị tiếp tục mở rộng, phát triển, định hình rõ nét hơn. Công tác quy hoạch được chú trọng, tập trung các nguồn lực cho đầu tư, từng bước hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng đô thị, nâng tỷ lệ đô thị hóa đạt 29,4%.

Phát triển hệ thống thương mại, đa dạng các ngành dịch vụ khai thác tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là dịch vụ du lịch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 13,29%/năm. Kim ngạch xuất khẩu có bước chuyển biến tích cực so với nhiệm kỳ trước, đạt 780 triệu USD, tăng 19,5% so năm 2015; thị trường tiêu thụ hàng hóa nông - thủy sản xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Phát triển nhanh hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị, bách hóa tổng hợp ở các đô thị và trung tâm huyện.

Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, lượng khách tăng rất nhanh qua các năm.

Cụ thể, năm 2016 đạt 5,41 triệu lượt khách; năm 2017 là 6,07 triệu lượt; năm 2018 là 7,62 triệu lượt và năm 2019 là 8,78 triệu lược khách, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của tỉnh. Doanh thu du lịch đạt hơn 22.918 tỷ đồng. Chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao; cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch tiếp tục được đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu của du khách; nguồn nhân lực phục vụ du lịch cơ bản đáp ứng yêu cầu; liên kết du lịch với các địa phương khác trong nước và quốc tế được mở rộng. Hiện nay, Sân bay Quốc tế Phú Quốc có kết nối đường bay với 13 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Kiên Giang khai trương Trung tâm giám sát an toàn, an ninh mạng và Điều hành thông tin
Vừa qua, UBND tỉnh Kiên Giang tổ chức lễ khai trương Trung tâm Giám sát an toàn, an ninh mạng và Điều hành thông tin tỉnh Kiên Giang.
Bình luận bài viết này
Xem thêm trên Báo Đầu Tư