Việt Nam - 10 năm là thành viên WTO
Nhìn lại kinh tế đất nước trong 10 năm là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) để rút ra những bài học kinh nghiệm đối với việc tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới và Cộng đồng ASEAN (AC), trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

Việc Việt Nam gia nhập WTO cách đây 10 năm là tiếp nối quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, là cột mốc quan trọng trong việc tham gia các định chế kinh tế quốc tế, mà trước đó, nước ta là thành viên Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Tiến cùng thời đại

Gia nhập WTO là chấp nhận luật chơi quốc tế về tự do hóa thương mại và đầu tư, đòi hỏi thể chế kinh tế quốc gia phải được sửa đổi và hoàn thiện để phù hợp với các quy tắc quốc tế, từng bước mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ theo các thỏa thuận đa phương và song phương, chấp nhận sự phán quyết của trọng tài quốc tế khi xảy ra tranh chấp.

.
GS-TSKH. Nguyễn Mại

Nếu nhìn từ bên ngoài, thì các cam kết với WTO tạo áp lực cải cách thể chế, luật pháp theo hướng tiếp cận thông lệ quốc tế, nhưng đó chính là xuất phát từ đòi hỏi của các nhân tố bên trong, phải đẩy nhanh hơn quá trình đổi mới để tiến kịp thời đại, xích gần và đuổi kịp trình độ phát triển của những nước dẫn đầu ASEAN.

Năm 1996, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Khoảng 5 năm 1997- 2001 là giai đoạn “minh bạch hóa thể chế chính trị và kinh tế”; các cơ quan nhà nước phải trả lời hơn 1.500 câu hỏi của nhiều nước thành viên WTO về hiến pháp, luật pháp và tình hình thực tế của đất nước. Gần 6 năm tiếp theo (2002- 2007) là quá trình đàm phán song phương với những nước có yêu cầu và đa phương với WTO, đồng thời sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản luật pháp để đáp ứng đòi hỏi của một quốc gia muốn gia nhập WTO. Sau khi là thành viên WTO, hệ thống luật pháp nước ta tiếp tục được hoàn thiện để thực hiện cam kết với WTO theo lộ trình đối với ngành và lĩnh vực kinh tế.

Cả hai giai đoạn sửa đổi và hoàn thiện luật pháp trước và sau khi gia nhập WTO đã chứng minh rằng, đó là quá trình đấu tranh giữa đổi mới với bảo thủ, giữa tự do hóa thương mại với bảo hộ mậu dịch, giữa tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệp với duy trì “cơ chế xin- cho”, giữa phương thức điều hành của nhà nước điện tử, nhà nước kiến tạo với duy trì nhà nước tập trung - quan liêu. Chính cuộc đấu tranh đó đã đưa lại kết quả rõ rệt bằng sự ra đời của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp 2014, là việc Chính phủ đòi hỏi phải áp dụng tiêu chuẩn của các nước OECD về thuế và các nước ASEAN - 4 về hải quan.

Tuy vậy, không phải sự phản ứng của những người có thẩm quyền từng ngành và lĩnh vực đã chấm dứt, mà trái lại, họ tìm cách “lách luật” để áp đặt ý đồ của mình vào việc quy định thủ tục, điều kiện theo cách “hành là chính” đối với doanh nghiệp, điển hình là muốn duy trì các quy định đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện để cấp giấy phép con, chưa nói đến thực thi pháp luật đang trở thành nút thắt lớn đối với hoạt động kinh tế.

Cảng Hải Phòng đã khai thác hết công suất do kim ngạch thương mại gia tăng nhanh chóng khi nền kinh tế đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. Ảnh: Đức Thanh
Cảng Hải Phòng đã khai thác hết công suất do kim ngạch thương mại gia tăng nhanh chóng khi nền kinh tế đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. Ảnh: Đức Thanh

Việc chuẩn bị và thực thi cam kết WTO được coi là một nhiệm vụ trọng tâm của đất nước, được thể hiện tại Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ về vấn đề này. Với Dự án Hậu WTO, sự khởi động ngay sau khi gia nhập WTO đã được tiến hành đồng loạt ở tất cả các bộ, ngành và địa phương; các cơ quan chuyên trách về WTO đã được thành lập để làm tư vấn cho doanh nghiệp. Nhiều tài liệu, trong đó có cẩm nang về WTO đã được ấn hành. Chưa bao giờ có không khí hào hứng, sôi nổi như những tháng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bởi chính sự kiện quan trọng đó đã được chuẩn bị khá tốt, đem lại lòng tin của người dân và doanh nghiệp vào tương lai của đất nước. Đây cũng là bài học kinh nghiệm cần được áp dụng trọng quá trình tham gia các FTA mới và AEC.

Thương mại và đầu tư quốc tế

Năm 2008, thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta, tốc độ tăng trưởng sụt giảm, lạm phát cao, Chính phủ phải tập trung đối phó với tình thế mới, do vậy việc thực hiện Chương trình Hành động về WTO không được tiến hành trong mấy năm sau đó.

Để đánh giá tình hình 5 năm sau khi gia nhập WTO, ngày 14/8/2012, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị toàn quốc về việc thực hiện Nghị quyết của Đảng và Chương trình hành động của Chính phủ, lấy ý kiến về dự thảo và ban hành Nghị quyết của Chính phủ “Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2012 - 2015 và định hướng đến 2020”.

Mở rộng quan hệ mậu dịch quốc tế với việc gia tăng nhanh chóng kim ngạch thương mại và thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng tích cực là mảng sáng trong việc gia nhập WTO.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu biến đổi tích cực, tỷ trọng hàng thô, tài nguyên giảm, trong khi tỷ trọng hàng chế tạo tăng; trong hàng chế tạo thì tỷ trọng hàng công nghệ cao tăng nhanh nhất. Tỷ trọng hàng thô trong kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 44,6%, hàng chế tạo là 55,4% thì năm 2015 hai con số tương ứng là 23,8% và 76,2%. Giai đoạn trước năm 2012, dệt may, da giày là mặt hàng xuất khẩu chế tạo chủ lực, thì mấy năm gần đây hàng diện tử, điện thoại, smarphone đã chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều.

Trong hoạt động thương mại quốc tế, các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đều đóng góp ngày càng nhiều, nhưng khu vực FDI có tốc độ tăng nhanh hơn, nên có xu hướng tăng tỷ trọng trong kim ngạch xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 của doanh nghiệp trong nước là 42,8%, khu vực FDI là 57,2%, thì năm 2015 các con số tương ứng là 29,5% và 71,5%. Nhìn chung, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu rất nhiều thì doanh nghiệp FDI xuất siêu, làm cho tình trạng nhập siêu giảm dần và có năm còn xuất siêu.

FDI là mảng sáng nhất trong 10 năm vừa qua. Vốn FDI thực hiện năm 2007 là 8,03 tỷ USD, năm 2010 là 11 tỷ USD, năm 2015 là 14,5 tỷ USD, năm 2016 là 15,8 tỷ USD, bằng gần 2 lần năm 2007. Đấy là chỉ tiêu quan trọng thế hiện sức hấp dẫn của Việt Nam đối với FDI, trong khi nhiều nước trong khu vực tăng trưởng thấp hoặc chững lại, thậm chí FDI của Thái Lan năm 2016 chỉ bằng 10% năm 2015.

Chất lượng FDI đã được nâng cao rõ rệt, nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới như Intel, Microsoft, Samsung, LG, Nokia, Canon, Mitsubishi đang thực hiện những dự án quy mô lớn, công nghệ cao, đầu tư xây dựng trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), góp phần quan trọng vào tái cấu trúc nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới.

Khoảng lệch giữa vốn FDI đăng ký với vốn FDI thực hiện đã được thu hẹp đáng kể; đó là tín hiệu tích cực đối với khu vực FDI. Năm 2007, vốn FDI đăng ký là 21,34 tỷ USD, vốn FDI thực hiện là 8,03 tỷ USD. Hai con số đó của năm 2008 là 71,72 tỷ USD và 11,50 tỷ USD, của năm 2010 là 19,88 tỷ USD và 11 tỷ USD, của năm 2016 là 24,3 tỷ USD và 15,8 tỷ USD.

Vốn FDI đăng ký là cam kết của nhà đầu tư đối với việc thực hiện dự án, chỉ có ý nghĩa về xu hướng phát triển FDI. Tuy vậy, từ khi Chính phủ phân cấp quản lý nhà nước cho Chính quyền địa phương và ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế thì đã xảy ra tình trạng một số cơ quan nhà nước không chú trọng lựa chọn nhà đầu tư đủ tiềm năng, nên hàng trăm dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhưng án binh bất động; năm 2016 nhiều địa phương đã loại bỏ hàng trăm dự án không có điều kiện thực hiện.

Mấy năm gần đây, tình trạng đó đã thay đổi, nhiều dự án quy mô hàng trăm triệu, hàng tỷ USD sau khi được phép đầu tư chỉ mất thời gian khoảng 1 năm đã đưa nhà máy vào vận hành. Do vậy, khoảng lệch giữa vốn FDI đăng ký với vốn FDI thực hiện đã thu hẹp nhiều.

Tóm lại, trong 10 năm gia nhập WTO, thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài là hai động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia.

AEC và các FTA mới

Khi gia nhập WTO năm 2007, quy mô kinh tế của đất nước còn khá khiêm tốn, Việt Nam nằm trong nhóm nước thu nhập thấp; năm 2016 khi tham gia AEC và các FTA mới, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình (thấp), là một trong 32 nước có kim ngạch xuất khẩu trên 100 tỷ USD, trong đó có một số mặt hàng đứng hàng đầu thế giới, là nước thu hút FDI ổn định nhất trong ASEAN.

Điều đáng lưu ý là, doanh nghiệp trong nước gia tăng nhanh chóng về số lượng và thay đổi nhiều về chất lượng. Năm 2007, có 147.316 doanh nghiệp tư nhân thì năm 2016 đã tăng gấp 4 lần, khoảng 550.000, trong đó đại bộ phận là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ; đã hình thành một số tập đoàn kinh tế lớn như Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai, Hòa Phát, True Milk không chỉ đầu tư và kinh doanh trong nước, mà còn đầu tư ra nước ngoài ngày càng nhiều.

Để tham gia có hiệu quả vào AEC và các FTA mới, thì không những cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và cải cách nhanh chóng thực thi thể chế, mà còn cần chuẩn bị tốt cho đội ngũ doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi cung ứng trong nước.

Năm 2016, năm đầu tiên ASEAN chuyển từ AFTA sang AEC đã chứng kiến làn sóng mua bán và sáp nhập (M&A) của nhiều tập đoàn kinh tế Thái Lan đối với Big C, Metro và dòng chảy hàng hóa từ Thái Lan sang thị trường nước ta, trên nhiều siêu thị ở các địa phương tràn ngập hàng Thái. Có vẻ như người Thái chuẩn bị rất tốt cho “giờ G” 31/12/2015 khi AEC ra đời, doanh nghiệp Thái Lan biết rõ nhu cầu, thị hiếu của người Việt Nam để thâm nhập thị trường có hiệu quả. Trong trường hợp này, doanh nghiệp Việt Nam lâm vào thế bị động đối phó.

Do vậy, từ kinh nghiệm của việc chuẩn bị trước và sau khi gia nhập WTO, từ thực trạng đáng buồn trong năm đầu của AEC để thực hiện tốt hơn công việc của các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp nhằm tận dụng cơ hội thuận lợi của AEC và của các FTA mới.

AEC là thị trường chung hàng hóa và dịch vụ của 650 triệu người với tổng GDP 2.500 tỷ USD, là khu vực đầu tư chung, tự do chu chuyển vốn và lao động có kỹ năng, Mỗi nước thành viên phải tuân thủ các hiệp định kinh tế và đầu tư chung, đồng thời có các quy định riêng để bảo đảm lợi ích quốc gia. Do vậy, các cơ quan nhà nước cần xuất bản “cẩm nang”  hướng dẫn doanh nghiệp trong quan hệ kinh tế và đầu tư đối với từng nước. Các doanh nghiệp cần chú ý nghiên cứu, cập nhật thông tin thay đổi luật pháp, chính sách của mỗi nước, thị hiếu tiêu dùng, tập quán kinh doanh để chủ động trong việc tìm kiếm bạn hàng và thiết lập quan hệ hợp tác tin cậy lẫn nhau.

FTA Việt - Hàn đã có hiệu lực, xuất khẩu 95% hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc có thuế suất bằng 0%, hai nước đang có quan hệ chính trị tốt đẹp. Do vậy, cần tìm hiểu để nắm bắt xu hướng phát triển thị trường nước này, tận dụng tốt hơn việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan để gia tăng nhanh hơn kim ngạch thương mại hai chiều, thu hút nhiều hơn FDI từ Hàn Quốc, nhất là của các tập đoàn kinh tế hàng đầu.

FTA Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu đã được thực hiện, Nga và 4 nước thuộc Liên Xô (cũ) là bạn hàng truyền thống, Nga đang chịu tác động tiêu cực của cấm vận từ EU và Mỹ, nên là cơ hội lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều cuộc triển lãm, hội chợ hàng Việt Nam tại các nước đó đã “cháy hàng”, chứng tỏ sản phẩm của Việt Nam đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, trong khi một nút thắt lớn là phương tiện thanh toán vốn sử dụng đồng USD đã được mở bằng việc hai bên chuyển sang thanh toán bằng đồng nội tệ. Các doanh nghiệp nước ta cần chú trọng hơn nữa thị trường đầy tiềm năng này để mở rộng nhanh quan hệ thương mại, thu hút đầu tư những dự án là thế mạnh của từng nước, đồng thời khuyến khích đầu tư của Việt Nam các dự án có lợi thế và có hiệu quả.

FTA với EU đã được ký kết, đang chờ các quốc gia thành viên EU phê chuẩn. Theo tin chính thống từ các cơ quan có thẩm quyền EU, vấn đề chỉ là thời gian mà thôi. Do vậy, các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp cần chuẩn bị điều kiện cần thiết để khi FTA này có hiệu lực có thể tận dụng được những ưu đãi mà EU dành cho Việt Nam.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là câu chuyện của tương lai, không nên vội khẳng định một kịch bản nào cả; mà cần tập trung nguồn lực để thực hiện có hiệu quả các FTA khác.

Nên chăng ít đi các cuộc hội thảo, hội nghị để bàn về “cơ hội và thách thức” đối với AEC và các AFTA mới. Các bộ, chính quyền địa phương coi trọng hơn việc cung cấp kịp thời thông tin và chỉ dẫn cho doanh nghiệp những vấn đề cần lưu ý đối với từng hiệp định; hướng dẫn hiệp hội ngành hàng tổ chức tốt phân công và hợp tác từng sản phẩm, trên từng thị trường theo chuỗi cung ứng. Từng doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời thông tin, điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chú trọng hình thành và bảo vệ thương hiệu hàng hóa, chủ động tham gia chuỗi cung ứng, từng bước tự tích lũy để mở rộng quy mô kinh doanh và sản xuất.

GS-TSKH. Nguyễn Mại
Bình luận của bạn về bài viết...