Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch
Cơ cấu vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực trong thời gian qua.

Các nguồn vốn đầu tư

Có 3 nguồn vốn đầu tư chính: khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thời gian qua, cơ cấu các nguồn vốn đầu tư đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực.

Tỷ trọng của nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước đã giảm từ 54,3% trong thời kỳ 1996 - 2000 xuống 51,8% trong thời kỳ 2001 - 2005, còn 38,7% trong thời kỳ 2006 - 2010, nhưng lại tăng lên 39,1% trong thời kỳ 2011 - 2015, tức là vẫn lớn nhất trong 3 nguồn. Từ năm 2016, lần đầu tiên, trầm trọng vốn từ khu vực nhà nước đã giảm còn 37,6% và đứng thứ 2 trong 3 nguồn; năm 2017, tiếp tục giảm còn 35,7%.

Nguồn vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Trong ảnh: Dây chuyền sản xuất tại Khu liên hiệp ô tô Chu Lai Trường Hải. Ảnh: C.C
Nguồn vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Trong ảnh: Dây chuyền sản xuất tại Khu liên hiệp ô tô Chu Lai Trường Hải. Ảnh: C.C

Nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước có vai trò quan trọng trong việc hình thành các công trình trọng điểm của quốc gia, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực, mà các khu vực khác không được, không thể hay không muốn đầu tư. Nhưng tỷ trọng trên vẫn còn quá lớn, trong khi hiệu quả đầu tư của khu vực này thấp nhất trong 3 nguồn. Do vậy, cần đẩy nhanh hơn nữa tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn đối với doanh nghiệp nhà nước.

Nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng ngày một lớn (từ 24,1% thời kỳ 1996 - 2000 lên 32,5% thời kỳ 2001 - 2005 lên 36,1% thời kỳ 2006 - 2010, lên 38,3% thời kỳ 2011 - 2015, lên 39% năm 2016 - lớn nhất trong 3 khu vực). Năm 2017, lần đầu tiên, tỷ trọng vốn khu vực này cán mốc 40%. Nguồn vốn này tăng nhanh nhờ khởi nghiệp tiếp tục được khuyến khích, tín dụng tăng trưởng cao...

Trong khi đó, tỷ trọng của vốn FDI đã cán mốc 25% trong năm 2017.

Hiệu quả đầu tư

Hiệu quả đầu tư thể hiện bằng hệ số ICOR (để tạo ra một đồng GDP thì phải đầu tư bao nhiêu đồng). Hệ số này nếu trong thời kỳ 2001 - 2005 còn ở mức 4,88 lần, thì thời kỳ 2006 - 2010 tăng lên 6,96 lần, thời kỳ 2011 - 2015 giảm còn 6,91 lần, năm 2016 giảm tiếp còn 6,41 lần, song vẫn cao gấp vài lần so với nhiều nước.

Hiệu quả đầu tư còn có thể tính bằng chỉ tiêu suất đầu tư tăng trưởng (hệ số giữa tỷ lệ vốn đầu tư/GDP chia cho tốc độ tăng GDP). Hệ số này nếu trong thời kỳ 1996 - 2000 chỉ có 4,7 lần, thì thời kỳ 2001 - 2005 đã tăng lên 5,2 lần, thời kỳ 2006 - 2010 tăng lên 6,2 lần, thời kỳ 2011 - 2015 giảm còn 5,4 lần. Trong đó, năm 2015 lần đầu tiên sau nhiều năm đã xuống dưới mức 5 lần, năm 2016 tăng lên là 5,3 lần. Năm 2017, hệ số này tính từ chỉ tiêu kế hoạch là 4,7 lần, nhưng thực tế đã ở mức 4,9 lần - tuy thấp hơn năm trước, nhưng vẫn còn ở mức cao.

Trong đó, suất đầu tư tăng trưởng của khu vực nhà nước thời kỳ 2001 - 2005 là 6,9 lần, đến thời kỳ 2006 - 2010 đã tăng lên 8,7 lần, thời kỳ 2011 - 2015 tăng tiếp lên 8,8 lần, năm 2016 giảm xuống còn 8,3 lần, nhưng vẫn cao nhất trong 3 khu vực.

Hệ số này của khu vực ngoài nhà nước nếu thời kỳ 2001 - 2005 chỉ có 3,8 lần, thì thời kỳ 2006 - 2010 tăng lên 4,8 lần, thời kỳ 2011 - 2015 giảm xuống còn 4,5 lần, nhưng năm 2016 tăng lên 5,5 lần.

Còn với khu vực FDI, suất đầu tư tăng trưởng thời kỳ 2001 - 2005 là 5,3 lần, thời kỳ 2006 - 2010 tăng lên 6 lần, thời kỳ 2011 - 2015 đột ngột tăng lên 17,4 lần, năm 2016 chỉ còn 4,4 lần. Tuy nhiên, do khu vực này còn có những vấn đề về hạch toán, chuyển giá, nên hiệu quả thực tế có thể cao hơn.

Minh Nhung

Bình luận của bạn về bài viết...